Quản Lý Giáo Dục Kỹ Năng Giao Tiếp Tiếng Việt Cho HS Dân Tộc Thiểu Số - Cao Bằng

Quản lí giáo dục kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số THPT Thạch An, Cao Bằng. Nâng cao hiệu quả giảng dạy, hòa nhập cộng đồng.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

125
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6. Phạm vi nghiên cứu

1.7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.8. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TRƯỜNG THPT

1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước

1.2. Những khái niệm cơ bản

1.2.1. Kỹ năng giao tiếp

1.2.2. Kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt

1.2.3. Hoạt động giáo dục

1.2.4. Giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt

1.2.5. Học sinh dân tộc tiểu số

1.2.6. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho HS DTTS tại trường THPT

1.3. Những vấn đề cơ bản về hoạt động GD KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS trường THPT

1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý và giao tiếp của học sinh DTTS THPT

1.3.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS trường THPT

1.3.3. Nội dung giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS THPT

1.3.4. Hình thức, phương pháp giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại trường THPT

1.4. Lý luận về quản lý tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT

1.4.1. Mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại trường THPT

1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT

1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT

1.4.3.1. Yếu tố chủ quan

2. CHƯƠNG 2: QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG

2.1. Khái quát về kinh tế - xã hội và giáo dục huyện Thạch An, Cao Bằng

2.1.1. Về kinh tế - xã hội

2.1.2. Về giáo dục

2.2. Tổ chức khảo sát

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

2.2.2. Nội dung khảo sát

2.2.3. Phương pháp khảo sát và đối tượng khảo sát

2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại các trường THPT trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, GV và học sinh về việc giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại các trường THPT trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

2.3.2. Thực trạng về kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt của học sinh THPT là người Dân tộc thiểu số trên địa bàn Huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

2.3.3. Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại các trường THPT huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

2.3.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS các trường THPT huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

2.3.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại các trường THPT trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
2.3.4.2. Thực trạng tổ chức quản lý hoạt dộng giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại các trường THPT huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
2.3.4.3. Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại các trường THPT huyện Thạch An, Cao Bằng
2.3.4.4. Thực trạng Quản lý Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho HS DTTS tại các trường THPT huyện Thạch An, Cao Bằng

2.3.5. Thực trạng Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS ở trường THPT huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh các trường THPT huyện Thạch An, Cao Bằng

2.4.1. Nhược điểm

2.4.2. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại trường THPT trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại trường THPT trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

3.2.1. Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS tại trường THPT trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

3.2.2. Tích hợp giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho HS DTTS thông qua các môn học

3.2.3. Tổ chức hoạt động Giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho HS DTTS qua giờ sinh hoạt lớp

3.2.4. Tổ chức hoạt động Giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho HS DTTS qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp

3.2.5. Phát triển môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt ở gia đình và cộng đồng cho học sinh DTTS

3.2.6. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.3. Khảo nghiệm các biện pháp

3.3.1. Mục đích khảo nghiệm

3.3.2. Nội dung khảo nghiệm

3.3.3. Phương pháp khảo nghiệm

3.3.4. Kết quả khảo nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Giáo Dục Kỹ Năng Giao Tiếp Tiếng Việt Dân Tộc

Giao tiếp là hoạt động cơ bản và thường xuyên của con người, đặc biệt quan trọng trong quá trình hòa nhập xã hội. Kỹ năng giao tiếp, nhất là giao tiếp bằng Tiếng Việt, đóng vai trò then chốt trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách của học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số (HS DTTS). Ở lứa tuổi THPT, các em đang đứng trước ngưỡng cửa quan trọng để trở thành những công dân có ích cho xã hội. Do đó, việc trang bị kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS không chỉ là yêu cầu của giáo dục mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Theo nghiên cứu của N. Lêvitov (1971), khả năng đặt mình vào vị trí của người khác là yếu tố quan trọng trong giao tiếp. Tuy nhiên, trên thực tế, kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt của HS DTTS còn nhiều hạn chế, gây ra những rào cản trong học tập và hòa nhập cộng đồng. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, và điều kiện kinh tế - xã hội. Theo thống kê, tỷ lệ biết đọc biết viết của người DTTS vẫn còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Cụ thể, Theo báo cáo của Hội đồng Dân tộc Quốc Hội công bố ngày 23/10/2018 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV thì tỷ lệ biết đọc, biết viết của người DTTS chỉ đạt 79,2% trong khi cả nước là 94,7%. Tỷ lệ học sinh DTTS đi học THPT chỉ đạt 41,8%. Vì vậy, việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt cho HS DTTS là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư đúng mức từ các cấp quản lý giáo dục, nhà trường, gia đình và cộng đồng. Mục tiêu chính là giúp HS DTTS tự tin hơn trong giao tiếp, nâng cao khả năng học tập và hòa nhập tốt hơn vào xã hội. Công tác này cần được thực hiện một cách hệ thống, bài bản, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục.

1.1. Tầm quan trọng của giao tiếp Tiếng Việt với HS Dân tộc Thiểu số

Giao tiếp Tiếng Việt không chỉ là phương tiện truyền đạt thông tin mà còn là công cụ để HS DTTS tiếp cận tri thức, hiểu biết về văn hóa, xã hội. Kỹ năng giao tiếp tốt giúp các em tự tin hơn trong học tập, hòa nhập vào môi trường mới và xây dựng các mối quan hệ xã hội. Việc thiếu hụt kỹ năng này có thể dẫn đến những khó khăn trong học tập, hạn chế cơ hội phát triển và gây ra cảm giác tự ti, mặc cảm. Theo tác giả Kak - Hai - Nơdích, phát triển ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách. Do đó, việc tăng cường giáo dục kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS là một yêu cầu cấp thiết, nhằm giúp các em phát huy tối đa tiềm năng của mình và đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Hoạt động này cũng giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, đồng thời tạo sự gắn kết giữa các cộng đồng.

1.2. Thực trạng kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt của học sinh dân tộc

Hiện nay, kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt của HS DTTS còn nhiều hạn chế, thể hiện ở khả năng diễn đạt, vốn từ vựng, ngữ pháp và phát âm. Nhiều em còn rụt rè, ngại giao tiếp, đặc biệt là với người lạ hoặc trong các tình huống trang trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do môi trường giao tiếp hạn chế, ít có cơ hội sử dụng Tiếng Việt ngoài giờ học. Bên cạnh đó, phương pháp dạy học Tiếng Việt hiện nay chưa thực sự phù hợp với đặc điểm của HS DTTS, chưa chú trọng đến việc phát triển kỹ năng thực hành và tạo môi trường giao tiếp tự nhiên, sinh động. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng Tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai có thể gây ra những khó khăn nhất định cho HS DTTS trong quá trình tiếp thu kiến thức và phát triển tư duy. Do đó, cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS, từ việc đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường môi trường giao tiếp đến việc xây dựng chương trình phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của các em.

II. Thách Thức Giáo Dục Giao Tiếp Tiếng Việt Cho Học Sinh DTTS

Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS gặp phải nhiều thách thức. Đầu tiên, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa giữa Tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của các em có thể gây ra những khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và diễn đạt ý tưởng. Thứ hai, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở nhiều vùng dân tộc thiểu số (DTTS) khiến cho việc tiếp cận với các nguồn tài liệu học tập và môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt còn hạn chế. Thứ ba, đội ngũ giáo viên ở vùng DTTS còn thiếu về số lượng và chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho đối tượng này. Thứ tư, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc tạo môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt còn chưa chặt chẽ. Thêm vào đó, tâm lý tự ti, mặc cảm về khả năng ngôn ngữ của bản thân cũng là một rào cản lớn đối với HS DTTS trong quá trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Các công trình nghiên cứu của Phùng Thị Hằng cho thấy những đặc điểm giao tiếp riêng của học sinh Tày, Nùng cần được chú ý trong quá trình giảng dạy. Việc vượt qua những thách thức này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn xã hội, đặc biệt là các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và cộng đồng.

2.1. Rào cản ngôn ngữ và văn hóa trong giao tiếp Tiếng Việt

Sự khác biệt về cấu trúc ngữ pháp, từ vựng và ngữ nghĩa giữa Tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của HS DTTS có thể gây ra những khó khăn trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Các em có thể gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý tưởng một cách chính xác, sử dụng từ ngữ phù hợp và phát âm đúng chuẩn. Bên cạnh đó, sự khác biệt về văn hóa cũng có thể dẫn đến những hiểu lầm trong giao tiếp, do các em chưa quen với các quy tắc ứng xử và phong tục tập quán của người Kinh. Việc tôn trọng và hiểu biết văn hóa của HS DTTS là rất quan trọng để tạo ra một môi trường giao tiếp cởi mở và thân thiện, giúp các em tự tin hơn trong việc sử dụng Tiếng Việt.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và môi trường giao tiếp Tiếng Việt

Điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở nhiều vùng DTTS khiến cho HS DTTS ít có cơ hội tiếp xúc với các nguồn tài liệu học tập bằng Tiếng Việt, như sách báo, truyện tranh, phim ảnh. Bên cạnh đó, môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt cũng còn hạn chế, do các em chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ trong gia đình và cộng đồng. Để khắc phục tình trạng này, cần tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, và xây dựng các thư viện, phòng đọc sách ở các trường học vùng DTTS. Đồng thời, cần khuyến khích các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, và các hoạt động ngoại khóa khác để tạo ra môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt sinh động và hấp dẫn cho HS DTTS.

2.3. Năng lực giáo viên và phương pháp giảng dạy chưa phù hợp

Đội ngũ giáo viên ở vùng DTTS còn thiếu về số lượng và chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho đối tượng HS DTTS. Nhiều giáo viên chưa có kinh nghiệm trong việc xử lý các vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa, và chưa biết cách tạo ra một môi trường học tập thân thiện, cởi mở, giúp các em tự tin hơn trong việc sử dụng Tiếng Việt. Do đó, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho HS DTTS, và khuyến khích các giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Bên cạnh đó, cần đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng đến việc phát triển kỹ năng thực hành, tạo môi trường giao tiếp tự nhiên, sinh động và sử dụng các phương tiện trực quan sinh động để giúp HS DTTS tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn.

III. Giải Pháp Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Tiếng Việt HS Dân Tộc

Để nâng cao kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Thứ nhất, cần đổi mới chương trình và phương pháp dạy học Tiếng Việt, chú trọng đến việc phát triển kỹ năng thực hành, tạo môi trường giao tiếp tự nhiên, sinh động và sử dụng các phương tiện trực quan sinh động. Thứ hai, cần tăng cường môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt cho HS DTTS, bằng cách khuyến khích các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, và các hoạt động ngoại khóa khác. Thứ ba, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho HS DTTS, và khuyến khích các giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Thứ tư, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc tạo môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt cho HS DTTS. Cuối cùng, cần xây dựng các tài liệu học tập và các công cụ đánh giá phù hợp với đặc điểm của HS DTTS, và đảm bảo rằng các em được tiếp cận với các nguồn tài liệu này một cách dễ dàng. Các nghiên cứu của Albert J. Petitpas cho thấy hoạt động thể dục thể thao và ngoài giờ lên lớp giúp HS PTTH phát triển sáng kiến và cảm xúc, thúc đẩy năng lực giao tiếp.

3.1. Đổi mới chương trình và phương pháp dạy học Tiếng Việt

Chương trình dạy học Tiếng Việt cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của HS DTTS, và chú trọng đến việc phát triển kỹ năng thực hành, hơn là chỉ tập trung vào lý thuyết. Phương pháp dạy học cần sử dụng các phương tiện trực quan sinh động, như hình ảnh, video, âm thanh, và các trò chơi ngôn ngữ để giúp HS DTTS tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, cần tạo ra môi trường giao tiếp tự nhiên, sinh động, bằng cách khuyến khích các em tham gia vào các hoạt động thảo luận, tranh luận, thuyết trình, và đóng vai.

3.2. Phát triển môi trường giao tiếp Tiếng Việt đa dạng và phong phú

Cần tạo ra nhiều cơ hội để HS DTTS sử dụng Tiếng Việt trong các tình huống khác nhau, như trong lớp học, trong các hoạt động ngoại khóa, và trong cộng đồng. Cần khuyến khích các em tham gia vào các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, và các hoạt động tình nguyện để gặp gỡ, giao tiếp với những người nói Tiếng Việt. Bên cạnh đó, cần tạo ra các câu lạc bộ Tiếng Việt, các nhóm học tập, và các diễn đàn trực tuyến để HS DTTS có thể giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm, và giúp đỡ lẫn nhau trong việc học Tiếng Việt.

3.3. Nâng cao năng lực giáo viên và tăng cường phối hợp liên ngành

Cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho HS DTTS, và khuyến khích các giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc tạo môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt cho HS DTTS. Cần tổ chức các buổi họp phụ huynh, các buổi nói chuyện chuyên đề, và các hoạt động tình nguyện để giúp phụ huynh và cộng đồng hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc giáo dục Tiếng Việt cho HS DTTS, và tham gia vào quá trình này một cách tích cực hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Giáo Dục Giao Tiếp Hiệu Quả

Việc ứng dụng các giải pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS cần được thực hiện một cách linh hoạt và sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương và từng trường học. Các hoạt động thực tiễn có thể bao gồm tổ chức các lớp học tăng cường Tiếng Việt, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ Tiếng Việt, các cuộc thi hùng biện Tiếng Việt, và các chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến việc đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và toàn diện, không chỉ dựa trên điểm số mà còn dựa trên khả năng sử dụng Tiếng Việt trong các tình huống thực tế. Một số nghiên cứu cho thấy rằng, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, tạo môi trường giao tiếp cởi mở, và tăng cường sự tham gia của gia đình và cộng đồng có thể mang lại những kết quả tích cực trong việc nâng cao kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS. Theo phân tích của Tri Suminar, việc học các kỹ năng giao tiếp cần thực hiện dựa trên nhu cầu của người học.

4.1. Mô hình lớp học tăng cường Tiếng Việt cho HS Dân tộc

Các lớp học tăng cường Tiếng Việt nên được tổ chức một cách linh hoạt và sáng tạo, với sự tham gia của các giáo viên có kinh nghiệm và am hiểu về văn hóa của HS DTTS. Nội dung học tập cần được thiết kế phù hợp với trình độ và nhu cầu của HS DTTS, và chú trọng đến việc phát triển kỹ năng thực hành, như nghe, nói, đọc, viết. Phương pháp dạy học cần sử dụng các phương tiện trực quan sinh động, và tạo môi trường giao tiếp cởi mở, thân thiện, giúp HS DTTS tự tin hơn trong việc sử dụng Tiếng Việt.

4.2. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa và giao lưu văn hóa Tiếng Việt

Các hoạt động ngoại khóa và giao lưu văn hóa là cơ hội tuyệt vời để HS DTTS sử dụng Tiếng Việt trong các tình huống thực tế, và khám phá, trải nghiệm những điều mới mẻ. Các hoạt động này có thể bao gồm tổ chức các buổi tham quan, dã ngoại, các cuộc thi văn nghệ, thể thao, và các chương trình giao lưu với các trường học khác. Bên cạnh đó, cần khuyến khích HS DTTS tham gia vào các hoạt động tình nguyện để giúp đỡ cộng đồng, và tạo ra những mối quan hệ xã hội tốt đẹp.

V. Kết Luận và Tương Lai Giáo Dục Kỹ Năng Giao Tiếp HS DTTS

Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp Tiếng Việt cho HS DTTS là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của toàn xã hội. Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Trong tương lai, cần tiếp tục đổi mới chương trình và phương pháp dạy học, tăng cường môi trường giao tiếp, nâng cao năng lực giáo viên, và tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến việc xây dựng các chính sách hỗ trợ HS DTTS trong quá trình học tập và phát triển, và đảm bảo rằng các em có cơ hội bình đẳng để tiếp cận với giáo dục chất lượng cao. Nghiên cứu về kĩ năng trong việc tìm kiếm đánh giá và sử dụng thông tin của Schubert Foo, cho thấy việc nắm vững kĩ năng này là cần thiết để định hướng cho HS.

5.1. Đề xuất chính sách và giải pháp hỗ trợ giáo dục ngôn ngữ

Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ HS DTTS trong quá trình học tập và phát triển, như cấp học bổng, hỗ trợ chi phí sinh hoạt, và cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý. Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, và xây dựng các thư viện, phòng đọc sách ở các trường học vùng DTTS. Cuối cùng, cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, cởi mở, và tôn trọng sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ của HS DTTS.

5.2. Định hướng nghiên cứu và phát triển giáo dục trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu về các phương pháp dạy học Tiếng Việt hiệu quả cho HS DTTS, và tìm ra những giải pháp phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của các em. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến việc phát triển các tài liệu học tập và các công cụ đánh giá phù hợp với HS DTTS, và đảm bảo rằng các em được tiếp cận với các nguồn tài liệu này một cách dễ dàng. Cuối cùng, cần xây dựng một mạng lưới các nhà nghiên cứu, giáo viên, và các chuyên gia về giáo dục Tiếng Việt cho HS DTTS để chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, và cùng nhau giải quyết các vấn đề khó khăn.

22/09/2025
Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện thạch an tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Khi nghiên cứu giao tiếp, các nhà khoa học đã đề cập đến kỹ năng giao tiếp trong chính nội hàm khái niệm giao tiếp, cụ thể như N. Lêvitov: “Nghệ thuật đứng ở vị trí người khác” (1971) [28] ông đã quan tâm đến k hả năng đặt mình vào vị trí của người khác.

Dakharov đã nghiên cứu 4 nhóm kỹ năng giao tiếp ở sinh viên Sư phạm và khái quát những đặc trưng cơ bản tương ứng cho mỗi nhóm kỹ năng đó. Kĩ năng giao tiếp có một vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng của mỗi con người. Tác giả Kak - Hai - Nơdích [13] người Đức đã nêu rõ về phát triển ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách. Hay với Evgrafova, sự hình thành văn hóa giao tiếp bằng lời là tiền đề để hình thành KNGT của trẻ.

Nghiên cứu về những lý luận chung về giao tiếp như: bản chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động,… có công trình của Xacopnhin, B. Theo phân tích nghiên cứu của Tri Suminar, Titi Prihatin, and Muhammad Ibnan Syarif với tiêu đề "Model of learning Development on Program Life Skills Educcation for Rural Communities" [30], đã chỉ ra việc học các kĩ năng giao tiếp cần được thực hiện dựa trên nhu cầu của người học, việc nắm vững các nội dung và chương trình đào tạo các kĩ năng phải dựa trên tinh thần chủ động sáng tạo của các nhà tổ chức giáo dục. Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển một mô hình học tập có giá trị đối với cộng đồng nông thôn để nâng cao sức cạnh tranh từ nguồn nhân lực chính tại các địa phương. Về kĩ năng trong việc tìm kiếm đánh giá và sử dụng thông tin có nghiên cứu của Schubert Foo, Shaheen Maijd với tiêu đề "Information Literacy Skills of Secondary School Students in Singapore" [29].

Nghiên cứu này nhằm mục đích để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đánh giá kiến thức của học sinh trung học tại Singapore. Theo đó, kĩ năng tổng hợp thông tin là khả năng xác định vị trí, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng thông tin trong bối cảnh khác nhau đang ngày được số hóa và phổ biến trong cuộc sống hàng ngày và đã trở thành một kĩ năng cần thiết để định hướng cho học sinh đáp ứng được những yêu cầu trong cuộc sống của từng cá nhân học sinh. Nghiên cứu về các kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giao tiếp nói riêng thông qua hoạt động trải nghiệm như: hoạt động thể dục thể thao, hoạt động ngoài giờ lên lớp,… có công trình nghiên cứu của Albert J. Petitpas và cộng sự với tiêu đề "A Life Skills Development Program for High School Student-Athletes" [26].

Theo đó, tác giả chỉ ra rằng các hoạt động thể dục thể thao và hoạt động ngoài giờ lên lớp là nơi giúp cho học sinh lứa tuổi THPT phát triển các sáng kiến và cảm xúc của bản thân, thúc đẩy năng lực của bản thân trong việc tham gia phát triển các kĩ năng cơ bản trong hoạt động giao tiếp. Dự án “Improving Students: Teaching Improvisation to High School Students to Increase Creative and Critical Thinking” của tác giả Beth D. Đây là dự án được triển khai bởi trung tâm nghiên cứu sáng tạo quốc tế (International Center for Studies in Creativity). Dự án tập trung vào việc dạy học sinh trường trung học những kỹ năng mang tính ngẫu hứng nhằm nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo và tầm quan trọng của những suy nghĩ tích cực cho học sinh.

Nội dung trình bày các công cụ để thực hiện đào tạo các kỹ năng sáng tạo giải quyết vấn đề, các quy tắc và khái niệm của các hoạt động trải nghiệm ngẫu hứng và kỹ năng tư duy tình cảm. Các dự án đã hoàn thành bao gồm các kế hoạch bài học, một bảng tính và một đoạn video hỗ trợ học sinh trung học và các nhà giáo dục trong giảng dạy các kỹ năng này. Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 - 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, nhờ sự hiểu biết mà con người có đạo đức nhân cách. Theo Aristoste (384 - 322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong nhân cách.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Khẳng định tầm quan trọng của giáo dục toàn diện, Rabơle (1494 - 1553) nhà giáo dục thời kỳ phục hưng đã nhấn mạnh việc tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp dưới hình thức trải nghiệm sáng tạo "Việc giáo dục phải bao hàm các nội dung trí đức, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ,… ngoài việc học ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày". Theo nhà tư tưởng người Pháp Rutxo trong cuốn "Những cơ sở lý luận của việc dạy học" tập 1 (1971) [Error! Reference source not found.] đã đề cao các hoạt động thực hành, t hực nghiệm bởi nó có tác dụng to lớn trong việc giáo dục trí tuệ và nhân cách cho học sinh. Ông nói "Đồ vật, đồ vật - hãy đưa ra đồ vật.

Tôi không ngừng nhắc đi, nhắc lại rằng chúng ta lạm dụng quá mức lời nói. Bằng cách giảng dạy ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên những con người ba hoa". Isma'il Al - Qabbami (1898 - 1963), nhà cải cách giáo dục tiên phong của Ai Cập đã đưa chủ nghĩa thực dụng đến với nhân dân Ai Cập và áp dụng nó rất thành công, đó là: sử dụng phương pháp giảng dạy theo nguyên tắc "học đi đôi với hành, tăng khả năng quan sát, nhận thức, phân tích, đánh giá". Phương pháp này ngược với phương pháp truyền thống "đọc viết, nghe và đọc".

Phát triển tinh thần tự do, khuyến khích dân chủ, tự định hướng và tôn trọng lẫn nhau giữa các trẻ, nuôi dưỡng khả năng sáng tạo".S nhà triết học Nga quan niệm trải nghiệm là sự tương tác giữa con người với thế giới tự nhiên và xã hội. Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa hoạt động trải nghiệm được xem xét là hoạt động cơ bản để hình thành phát triển năng lực thực tiễn, kĩ năng hành động cho học sinh, sinh viên, với ý nghĩa đó Hội đồng kinh doanh Úc và phòng thương mại, công nghiệp Úc với sự bảo trợ của Bộ GD&ĐT khoa học Hội đồng quốc gia Úc đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn nghề cho tương lai”. Những nghiên cứu trong nước Trong lịch sử phát triển của dân tộc vấn đề giao tiếp đã được coi trọng và được coi là nền tảng, tiêu chuẩn, là thước đo đánh giá nhân cách con người. Vấn đề giao tiếp còn là sự đúc kết kinh nghiệm trong cuộc sống.

Người xưa thường lưu truyền nhau qua các thế hệ "Học ăn học nói, học gói học mở", "Lời nói chẳng mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Đó là những kinh nghiệm quý báu được người xưa đúc kết và lưu truyền trong xã hội. Đã có nhiều công trình nghiên cứu KNGT dưới góc độ tâm lý học. Bắt đầu từ những năm 80 có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam như: Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,.

Nghiên cứu về KNGT sư phạm có tác giả Hoàng Anh [1]. Nghiên cứu về đề tài "Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh phổ thông dân tộc tày,nùng" có tác giả Phùng Thị Hằng năm 200 [8]. Nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau về bản chất của giao tiếp, vai trò, vị trí của giao tiếp trong sự hình thành nhân cách như: "Các Mác và phạm trù giao tiếp" (1963) của Đỗ Long, "Giao tiếp, tâm lý, nhân cách" (1981), "Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ" (1981), "Bàn về phạm trù giao tiếp" (1981) của Bùi Văn Huệ, "Nhập môn khoa học giao tiếp" (2006) của Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy. Hiện nay, giao tiếp cũng là một nội dung quan trọng được giảng dạy tại các nhà trường.

Trong "Giáo trình tâm lý học xã hội - những vấn đề lý luận" của Mai Thanh Thế, "Giáo trình giao tiếp sư phạm" (2002) của Lê Thanh Hùng (Đại học An Giang), "Khoa học giao tiếp" (2002) của Nguyễn Ngọc Lâm (Đại học mở TP Hồ Chí Minh), "Ứng xử sư phạm" của Trịnh Trúc Lâm (2006),… đã cung cấp các nội dung như khái niệm giao tiếp, chức năng, vai trò của giao tiếp, phong cách giao tiếp, hệ thống giao tiếp,… cũng như nguyên tắc, quy trình ứng xử và các tình huống ứng xử trong giao tiếp sư phạm cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề giao tiếp và giao tiếp sư phạm. Khoa Tâm lý học giáo dục trường Đại học sư phạm Hà Nội cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp, nghiên cứu về giao tiếp sư phạm có các tài liệu như "Đặc điểm giao tiếp sư phạm" (1985) của tác giả Trần Trọng Thủy, "Giao tiếp và ứng xử sư Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn trong giao tiếp sư phạm. Đây cũng là cơ sở quan trọng giúp tôi định hướng cho đề tài trong nghiên cứu hoạt động giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS trên địa bàn huyện Thạch An, Cao Bằng. Bên cạnh đó, một số luận án nghiên cứu về giao tiếp và các vấn đề liên quan có thể kể đến như: Luận án Tiến sỹ Tâm lý học giáo dục "Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi" của Lê Xuân Hồng (1996) đã hệ thống các lý luận về giao tiếp của trẻ, nghiên cứu việc tổ chức chơi và những ảnh hưởng của tác động qua lại giữa trẻ trong nhóm chơi không cùng lứa tuổi ở trường mẫu giáo [11].

Những nghiên cứu của đề tài giúp tôi có cơ sở xem xét những đặc điểm tâm lý, đặc điểm giao tiếp của học sinh lứa tuổi THPT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ