Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Khi nghiên cứu giao tiếp, các nhà khoa học đã đề cập đến kỹ năng giao tiếp trong chính nội hàm khái niệm giao tiếp, cụ thể như N. Lêvitov: “Nghệ thuật đứng ở vị trí người khác” (1971) [28] ông đã quan tâm đến k hả năng đặt mình vào vị trí của người khác.
Dakharov đã nghiên cứu 4 nhóm kỹ năng giao tiếp ở sinh viên Sư phạm và khái quát những đặc trưng cơ bản tương ứng cho mỗi nhóm kỹ năng đó. Kĩ năng giao tiếp có một vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng của mỗi con người. Tác giả Kak - Hai - Nơdích [13] người Đức đã nêu rõ về phát triển ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách. Hay với Evgrafova, sự hình thành văn hóa giao tiếp bằng lời là tiền đề để hình thành KNGT của trẻ.
Nghiên cứu về những lý luận chung về giao tiếp như: bản chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động,… có công trình của Xacopnhin, B. Theo phân tích nghiên cứu của Tri Suminar, Titi Prihatin, and Muhammad Ibnan Syarif với tiêu đề "Model of learning Development on Program Life Skills Educcation for Rural Communities" [30], đã chỉ ra việc học các kĩ năng giao tiếp cần được thực hiện dựa trên nhu cầu của người học, việc nắm vững các nội dung và chương trình đào tạo các kĩ năng phải dựa trên tinh thần chủ động sáng tạo của các nhà tổ chức giáo dục. Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển một mô hình học tập có giá trị đối với cộng đồng nông thôn để nâng cao sức cạnh tranh từ nguồn nhân lực chính tại các địa phương. Về kĩ năng trong việc tìm kiếm đánh giá và sử dụng thông tin có nghiên cứu của Schubert Foo, Shaheen Maijd với tiêu đề "Information Literacy Skills of Secondary School Students in Singapore" [29].
Nghiên cứu này nhằm mục đích để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đánh giá kiến thức của học sinh trung học tại Singapore. Theo đó, kĩ năng tổng hợp thông tin là khả năng xác định vị trí, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng thông tin trong bối cảnh khác nhau đang ngày được số hóa và phổ biến trong cuộc sống hàng ngày và đã trở thành một kĩ năng cần thiết để định hướng cho học sinh đáp ứng được những yêu cầu trong cuộc sống của từng cá nhân học sinh. Nghiên cứu về các kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giao tiếp nói riêng thông qua hoạt động trải nghiệm như: hoạt động thể dục thể thao, hoạt động ngoài giờ lên lớp,… có công trình nghiên cứu của Albert J. Petitpas và cộng sự với tiêu đề "A Life Skills Development Program for High School Student-Athletes" [26].
Theo đó, tác giả chỉ ra rằng các hoạt động thể dục thể thao và hoạt động ngoài giờ lên lớp là nơi giúp cho học sinh lứa tuổi THPT phát triển các sáng kiến và cảm xúc của bản thân, thúc đẩy năng lực của bản thân trong việc tham gia phát triển các kĩ năng cơ bản trong hoạt động giao tiếp. Dự án “Improving Students: Teaching Improvisation to High School Students to Increase Creative and Critical Thinking” của tác giả Beth D. Đây là dự án được triển khai bởi trung tâm nghiên cứu sáng tạo quốc tế (International Center for Studies in Creativity). Dự án tập trung vào việc dạy học sinh trường trung học những kỹ năng mang tính ngẫu hứng nhằm nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo và tầm quan trọng của những suy nghĩ tích cực cho học sinh.
Nội dung trình bày các công cụ để thực hiện đào tạo các kỹ năng sáng tạo giải quyết vấn đề, các quy tắc và khái niệm của các hoạt động trải nghiệm ngẫu hứng và kỹ năng tư duy tình cảm. Các dự án đã hoàn thành bao gồm các kế hoạch bài học, một bảng tính và một đoạn video hỗ trợ học sinh trung học và các nhà giáo dục trong giảng dạy các kỹ năng này. Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 - 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, nhờ sự hiểu biết mà con người có đạo đức nhân cách. Theo Aristoste (384 - 322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong nhân cách.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Khẳng định tầm quan trọng của giáo dục toàn diện, Rabơle (1494 - 1553) nhà giáo dục thời kỳ phục hưng đã nhấn mạnh việc tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp dưới hình thức trải nghiệm sáng tạo "Việc giáo dục phải bao hàm các nội dung trí đức, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ,… ngoài việc học ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày". Theo nhà tư tưởng người Pháp Rutxo trong cuốn "Những cơ sở lý luận của việc dạy học" tập 1 (1971) [Error! Reference source not found.] đã đề cao các hoạt động thực hành, t hực nghiệm bởi nó có tác dụng to lớn trong việc giáo dục trí tuệ và nhân cách cho học sinh. Ông nói "Đồ vật, đồ vật - hãy đưa ra đồ vật.
Tôi không ngừng nhắc đi, nhắc lại rằng chúng ta lạm dụng quá mức lời nói. Bằng cách giảng dạy ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên những con người ba hoa". Isma'il Al - Qabbami (1898 - 1963), nhà cải cách giáo dục tiên phong của Ai Cập đã đưa chủ nghĩa thực dụng đến với nhân dân Ai Cập và áp dụng nó rất thành công, đó là: sử dụng phương pháp giảng dạy theo nguyên tắc "học đi đôi với hành, tăng khả năng quan sát, nhận thức, phân tích, đánh giá". Phương pháp này ngược với phương pháp truyền thống "đọc viết, nghe và đọc".
Phát triển tinh thần tự do, khuyến khích dân chủ, tự định hướng và tôn trọng lẫn nhau giữa các trẻ, nuôi dưỡng khả năng sáng tạo".S nhà triết học Nga quan niệm trải nghiệm là sự tương tác giữa con người với thế giới tự nhiên và xã hội. Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa hoạt động trải nghiệm được xem xét là hoạt động cơ bản để hình thành phát triển năng lực thực tiễn, kĩ năng hành động cho học sinh, sinh viên, với ý nghĩa đó Hội đồng kinh doanh Úc và phòng thương mại, công nghiệp Úc với sự bảo trợ của Bộ GD&ĐT khoa học Hội đồng quốc gia Úc đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn nghề cho tương lai”. Những nghiên cứu trong nước Trong lịch sử phát triển của dân tộc vấn đề giao tiếp đã được coi trọng và được coi là nền tảng, tiêu chuẩn, là thước đo đánh giá nhân cách con người. Vấn đề giao tiếp còn là sự đúc kết kinh nghiệm trong cuộc sống.
Người xưa thường lưu truyền nhau qua các thế hệ "Học ăn học nói, học gói học mở", "Lời nói chẳng mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Đó là những kinh nghiệm quý báu được người xưa đúc kết và lưu truyền trong xã hội. Đã có nhiều công trình nghiên cứu KNGT dưới góc độ tâm lý học. Bắt đầu từ những năm 80 có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam như: Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,.
Nghiên cứu về KNGT sư phạm có tác giả Hoàng Anh [1]. Nghiên cứu về đề tài "Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh phổ thông dân tộc tày,nùng" có tác giả Phùng Thị Hằng năm 200 [8]. Nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau về bản chất của giao tiếp, vai trò, vị trí của giao tiếp trong sự hình thành nhân cách như: "Các Mác và phạm trù giao tiếp" (1963) của Đỗ Long, "Giao tiếp, tâm lý, nhân cách" (1981), "Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ" (1981), "Bàn về phạm trù giao tiếp" (1981) của Bùi Văn Huệ, "Nhập môn khoa học giao tiếp" (2006) của Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy. Hiện nay, giao tiếp cũng là một nội dung quan trọng được giảng dạy tại các nhà trường.
Trong "Giáo trình tâm lý học xã hội - những vấn đề lý luận" của Mai Thanh Thế, "Giáo trình giao tiếp sư phạm" (2002) của Lê Thanh Hùng (Đại học An Giang), "Khoa học giao tiếp" (2002) của Nguyễn Ngọc Lâm (Đại học mở TP Hồ Chí Minh), "Ứng xử sư phạm" của Trịnh Trúc Lâm (2006),… đã cung cấp các nội dung như khái niệm giao tiếp, chức năng, vai trò của giao tiếp, phong cách giao tiếp, hệ thống giao tiếp,… cũng như nguyên tắc, quy trình ứng xử và các tình huống ứng xử trong giao tiếp sư phạm cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề giao tiếp và giao tiếp sư phạm. Khoa Tâm lý học giáo dục trường Đại học sư phạm Hà Nội cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp, nghiên cứu về giao tiếp sư phạm có các tài liệu như "Đặc điểm giao tiếp sư phạm" (1985) của tác giả Trần Trọng Thủy, "Giao tiếp và ứng xử sư Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn trong giao tiếp sư phạm. Đây cũng là cơ sở quan trọng giúp tôi định hướng cho đề tài trong nghiên cứu hoạt động giáo dục KNGT bằng Tiếng Việt cho học sinh DTTS trên địa bàn huyện Thạch An, Cao Bằng. Bên cạnh đó, một số luận án nghiên cứu về giao tiếp và các vấn đề liên quan có thể kể đến như: Luận án Tiến sỹ Tâm lý học giáo dục "Một số đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi" của Lê Xuân Hồng (1996) đã hệ thống các lý luận về giao tiếp của trẻ, nghiên cứu việc tổ chức chơi và những ảnh hưởng của tác động qua lại giữa trẻ trong nhóm chơi không cùng lứa tuổi ở trường mẫu giáo [11].
Những nghiên cứu của đề tài giúp tôi có cơ sở xem xét những đặc điểm tâm lý, đặc điểm giao tiếp của học sinh lứa tuổi THPT.