Tổng quan nghiên cứu

Kỹ năng giải quyết vấn đề đóng vai trò then chốt trong cấu trúc năng lực tâm lý xã hội của trẻ mầm non, đặt nền tảng quan trọng cho việc hình thành nhân cách tự chủ và khả năng thích ứng trong giai đoạn chuyển tiếp lên bậc tiểu học. Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục mầm non theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, việc trang bị kỹ năng này trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Tuy nhiên, các khảo sát thực tế cho thấy hơn 60% giáo viên mầm non vẫn gặp khó khăn trong việc thiết kế hoạt động rèn luyện kỹ năng thực chất, khiến phần lớn trẻ còn thụ động, lúng túng hoặc nảy sinh hành vi bộc phát khi đối mặt với xung đột trong sinh hoạt hằng ngày.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Huyền thuộc chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục Mầm non) tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Thị Thủy, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động chủ đạo của lứa tuổi là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Đề tài được triển khai khảo sát thực chứng trên mẫu khách thể gồm 435 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cùng 60 cán bộ quản lý và giáo viên tại 4 trường mầm non trọng điểm trên địa bàn thành phố Thái Nguyên: Mầm non 19/5 Tân Lập, Mầm non Tân Long, Mầm non Phúc Hà và Mầm non Đồng Quang trong giai đoạn năm học 2021 - 2022.

Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cụ thể hóa mục tiêu giáo dục theo Chương trình Giáo dục Mầm non và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi thành các tiêu chí định lượng đo lường được. Kết quả thực nghiệm sư phạm minh chứng rằng việc áp dụng đồng bộ hệ thống giải pháp sư phạm đã nâng tỷ lệ trẻ đạt mức độ thành thạo kỹ năng giải quyết vấn đề từ khoảng 20% lên 56,7%, giảm thiểu đáng kể các hành vi tiêu cực trong giao tiếp nhóm bạn, đồng thời cung cấp mô hình thực nghiệm chuẩn hóa có thể chuyển giao cho các cơ sở giáo dục mầm non đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý luận của đề tài được xây dựng trên sự tích hợp của hai học thuyết tâm lý học phát triển kinh điển cùng các mô hình kỹ năng xã hội hiện đại. Thứ nhất là Thuyết hoạt động văn hóa - lịch sử của Lev Vygotsky, khẳng định hoạt động vui chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề, giữ vị trí hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Thông qua việc nhập vai người lớn và vận hành trong "vùng phát triển gần nhất" (ZPD), trẻ vượt khỏi năng lực tư duy hiện tại để tiếp thu các chuẩn mực đạo đức, hành vi xã hội và kỹ năng tự điều chỉnh cảm xúc. Thứ hai là Thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget, giải thích cơ chế thích nghi của trẻ thông qua hai quá trình đồng hóa và điều ứng; trong môi trường chơi giả bộ, trẻ không chỉ mô phỏng thực tại mà còn chủ động giải quyết mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và tình huống mới phát sinh. Bên cạnh đó, đề tài kế thừa mô hình kỹ năng xã hội của Bedell và Lennox (1982), rút gọn quy trình 7 bước giải quyết vấn đề kinh điển thành quy trình 3 giai đoạn tinh gọn, tương thích với khả năng nhận thức của trẻ 5-6 tuổi.

Đề tài làm sáng tỏ 5 khái niệm công cụ nền tảng:

  • Kỹ năng: Khả năng thực hiện có kết quả một hành động trong điều kiện xác định dựa trên tri thức và trải nghiệm vốn có.
  • Vấn đề: Trạng thái mâu thuẫn biện chứng giữa mục tiêu cần đạt và phương tiện hiện có, nảy sinh từ các tình huống chứa đựng yếu tố chưa biết.
  • Kỹ năng giải quyết vấn đề: Năng lực nhận diện mâu thuẫn, phân tích hoàn cảnh, lựa chọn phương án tối ưu và hành động hiệu quả để vượt qua rào cản.
  • Trò chơi đóng vai theo chủ đề: Hình thức chơi sáng tạo mang tính xã hội sâu sắc, trong đó trẻ đóng giả một nhân vật cụ thể để phản ánh các mối quan hệ xã hội thông qua hành động chơi ước lệ và ngôn ngữ đối thoại.
  • Giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề: Quá trình sư phạm có chủ đích, có kế hoạch nhằm trang bị tri thức, bồi dưỡng xúc cảm tích cực và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm hành động thực tiễn để tháo gỡ xung đột nảy sinh trong cuộc sống.

Căn cứ pháp lý của nghiên cứu bám sát Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT năm 2021 quy định Chương trình Giáo dục Mầm non và Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (trọng tâm là Chuẩn 9 về nhận biết - kiềm chế cảm xúc, Chuẩn 10 và 11 về hợp tác bạn bè, Chuẩn 13 về tôn trọng sự công bằng).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận, thực tiễn và thống kê toán học nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

  • Cỡ mẫu và đối tượng khảo sát: Khách thể khảo sát bao gồm 60 cán bộ quản lý và giáo viên trực tiếp đứng lớp mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), cùng 435 trẻ thuộc 4 trường mầm non trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Quá trình thực nghiệm sư phạm chuyên sâu được tiến hành trên 2 lớp mẫu giáo lớn tương đồng về điều kiện học tập tại Trường Mầm non 19/5 Tân Lập: Lớp 5-6 tuổi A2 (30 trẻ) đóng vai trò nhóm thực nghiệm và Lớp 5-6 tuổi A3 (30 trẻ) đóng vai trò nhóm đối chứng.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng thuận tiện đại diện cho các địa bàn trường nội thành và ven đô có điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên đồng đều. Trong thực nghiệm, phương pháp ghép cặp tương đương được áp dụng nhằm đảm bảo điểm khởi đầu về nhận thức và kỹ năng giữa hai nhóm không có sai biệt thống kê có ý nghĩa trước tác động.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc gồm 60 phiếu đối với cán bộ quản lý và giáo viên; quan sát sư phạm trực tiếp hoạt động chơi với biên bản bán cấu trúc; phỏng vấn sâu cá nhân giáo viên; thực nghiệm sư phạm can thiệp kéo dài từ học kỳ I đến hết học kỳ II năm học 2021 - 2022.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Số liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng các thuật toán thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn) và thống kê suy luận (kiểm định Student t-test so sánh giá trị trung bình giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm). Việc kết hợp phân tích định tính và định lượng cho phép triệt tiêu sai lệch chủ quan của người quan sát, đồng thời xác lập mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa các biện pháp sư phạm đề xuất và sự tiến bộ hành vi của trẻ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực trạng từ 435 trẻ và 60 giáo viên mầm non trước khi tiến hành thực nghiệm cho thấy bức tranh rõ nét về thực trạng giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề tại địa phương:

Thứ nhất, mức độ hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ 5-6 tuổi trước thực nghiệm còn thấp và thiếu đồng đều giữa các nhóm kỹ năng thành phần. Kết quả khảo sát ban đầu ghi nhận tỷ lệ trẻ đạt mức độ 3 (Trên đạt - thành thạo) chỉ dao động trong khoảng từ 18,5% đến 22,0%. Trong khi đó, tỷ lệ trẻ ở mức độ 1 (Chưa đạt - còn thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào cô giáo) chiếm tỷ trọng lớn, từ 35,0% đến 41,5%. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc khi nảy sinh mâu thuẫn đồ chơi và kỹ năng thỏa thuận giải pháp bằng lời nói.

Thứ hai, tồn tại sự mâu thuẫn rõ rệt giữa nhận thức và năng lực hành động của đội ngũ giáo viên. Trong khi 100% cán bộ quản lý và giáo viên được hỏi đều khẳng định giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, thì có đến 68,3% giáo viên thừa nhận gặp lúng túng trong việc thiết kế tình huống chơi có vấn đề. Khi xảy ra tranh chấp vai chơi giữa trẻ, 61,7% giáo viên thường can thiệp thô bạo bằng cách phân xử thay hoặc áp đặt trật tự ngay lập tức, làm tước đoạt cơ hội tự trải nghiệm và tìm kiếm giải pháp của trẻ.

Thứ ba, sự bứt phá vượt bậc về kỹ năng của nhóm thực nghiệm sau quá trình can thiệp sư phạm. Tại thời điểm sau thực nghiệm, mức độ giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề của lớp thực nghiệm 5-6 tuổi A2 (30 trẻ) có bước tiến nhảy vọt so với lớp đối chứng 5-6 tuổi A3 (30 trẻ):

  • Nhóm thực nghiệm A2: Tỷ lệ trẻ đạt mức độ 3 (Trên đạt) tăng mạnh từ 20,0% trước thực nghiệm lên 56,7% sau thực nghiệm (mức tăng ròng đạt 36,7%). Ngược lại, tỷ lệ trẻ ở mức độ 1 (Chưa đạt) giảm sâu từ 36,7% xuống chỉ còn 6,6% (giảm 30,1%).
  • Nhóm đối chứng A3: Tỷ lệ trẻ đạt mức độ 3 chỉ biến động nhẹ, từ 21,2% lên 27,3% (chỉ tăng 6,1%), trong khi tỷ lệ trẻ ở mức độ 1 vẫn duy trì ở mức cao là 24,2%.

Thứ tư, trẻ nhóm thực nghiệm hình thành rõ nét phản xạ tương tác tích cực. Số vụ xung đột thể lực bộc phát giảm trên 70% trong các giờ hoạt động góc; trên 80% trẻ biết sử dụng các mẫu câu đàm phán như "Bạn chơi xong cho mình mượn nhé", "Chúng mình cùng làm bác sĩ nhé" thay vì giằng co đồ chơi hoặc khóc lóc cầu cứu giáo viên.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học ban đầu: Hoạt động chơi đóng vai theo chủ đề chính là môi trường giả định tối ưu để tôi luyện hành vi xã hội cho trẻ lứa tuổi mầm non. Khi trẻ nhập vai (bác sĩ khám bệnh, người bán hàng, tài xế xe buýt, cô nuôi dạy trẻ), trẻ phải tự nguyện tuân thủ các quy tắc ứng xử của vai đó. Bản chất của vai chơi buộc trẻ phải thoát khỏi vị kỷ cá nhân để phối hợp với bạn chơi.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột kép thể hiện tỷ lệ % các mức độ phát triển kỹ năng (Chưa đạt, Đạt, Trên đạt) giữa hai nhóm A2 và A3 tại hai thời điểm trước và sau thực nghiệm. Một bảng tổng hợp ma trận đối sánh điểm trung bình cộng ở 3 tiêu chí cốt lõi (Nhận biết vấn đề - Lựa chọn giải pháp - Kiểm soát cảm xúc) cho thấy đường cong tăng trưởng của nhóm can thiệp dốc đứng, đặc biệt là ở tiêu chí kiểm soát cảm xúc với độ lệch chuẩn thu hẹp đáng kể. Điều này phản ánh các biện pháp sư phạm đã tác động đồng đều lên toàn bộ trẻ trong lớp, kể cả những trẻ vốn nhút nhát hoặc hiếu động.

Kết quả này hoàn toàn tương thích và làm sâu sắc thêm kết luận của Rosen khi nghiên cứu tác động của trò chơi đóng vai 40 ngày đối với hành vi giải quyết vấn đề của trẻ em, đồng thời củng cố nhận định của Webster-Stratton và Reid (2004) về việc sử dụng tình huống chơi kịch nghệ nhằm nâng cao năng lực ứng xử xã hội. Tại Việt Nam, nghiên cứu tiếp nối mạch nghiên cứu của Huỳnh Văn Sơn (2012) và Đinh Lan Anh (2019), nhưng đã tiến thêm một bước cụ thể khi lượng hóa thành công bộ tiêu chí đánh giá hành vi trẻ qua thang đo 3 mức độ rõ ràng, gắn chặt với điều kiện thực tế của hệ thống trường mầm non công lập địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm, đề tài đề xuất 4 nhóm biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề cho trẻ mẫu giáo lớn:

  1. Xây dựng môi trường vật chất và tâm lý mở trong các góc chơi: Ban giám hiệu phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm rà soát, bổ sung tối thiểu 15 đến 20 loại học liệu mở, vật liệu tái chế (vỏ hộp, lõi giấy, vải vụn, que gỗ) tại các góc phân vai trước tháng 9 hằng năm. Thay thế đồ chơi mô phỏng hoàn chỉnh bằng vật liệu chưa hoàn thiện nhằm kích thích 100% trẻ phải tư duy biến đổi công dụng vật phẩm, tăng 40% khả năng hợp tác sáng tạo đạo cụ chơi giữa các nhóm trẻ.
  2. Tăng cường cài đặt hệ thống bài tập tình huống giả định vào tiến trình chơi: Giáo viên mầm non chủ động xây dựng ngân hàng tối thiểu 30 bài tập tình huống có vấn đề xuất phát từ ngữ cảnh đời sống (thiếu tiền trả hàng, bệnh nhân đông quá tải, xung đột giành chỗ ngồi trên xe buýt). Tích hợp định kỳ từ 2 đến 3 tình huống vào kế hoạch chơi mỗi tuần, hướng tới mục tiêu đạt trên 75% trẻ tự thỏa thuận giải quyết thành công tình huống mà không cần giáo viên can thiệp xử lý trong vòng 6 tháng triển khai.
  3. Chuẩn hóa quy trình hướng dẫn và bồi dưỡng kỹ năng quan sát sư phạm cho đội ngũ giáo viên: Ban giám hiệu các trường mầm non tổ chức sinh hoạt chuyên môn chuyên đề 2 lần mỗi tháng nhằm huấn luyện giáo viên làm chủ kỹ thuật "lùi lại quan sát", kiên nhẫn dành từ 3 đến 5 phút cho trẻ tự tương tác trước khi hỗ trợ. Giáo viên chỉ nhập cuộc với tư cách một bạn chơi bình đẳng để gợi mở câu hỏi, chấm dứt hoàn toàn tình trạng 100% can thiệp áp đặt từ bên ngoài.
  4. Thiết lập cơ chế liên kết giáo dục nhất quán giữa nhà trường và gia đình: Ban đại diện cha mẹ học sinh cùng giáo viên thiết lập kênh tương tác số định kỳ hằng tuần, hướng dẫn phụ huynh chuyển giao quyền tự phục vụ và tự xử lý xích mích sinh hoạt cho trẻ tại gia đình. Mục tiêu phấn đấu đạt tối thiểu 85% phụ huynh đồng thuận áp dụng thống nhất nguyên tắc bình tĩnh lắng nghe và hướng dẫn con nhận diện cảm xúc trong 12 tháng của năm học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị thực tiễn và phương pháp luận sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  1. Cán bộ quản lý giáo dục mầm non tại các Phòng Giáo dục và Ban Giám hiệu nhà trường: Nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn và khung tiêu chuẩn định lượng 3 cấp độ để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, đồng thời làm tiêu chí đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục kỹ năng xã hội theo định hướng đổi mới phương pháp giáo dục mầm non.
  2. Giáo viên mầm non trực tiếp phụ trách các nhóm lớp mẫu giáo 5-6 tuổi: Tài liệu đóng vai trò như một cẩm nang hướng dẫn sư phạm thực chiến, cung cấp quy trình 3 giai đoạn xử lý tình huống, danh mục ngân hàng các tình huống giả định theo từng chủ đề chơi cụ thể (gia đình, bệnh viện, trường học, siêu thị), giúp giáo viên tự tin tổ chức hoạt động góc linh hoạt, hiệu quả.
  3. Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục Mầm non và Tâm lý học Sư phạm: Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm đối chứng, cung cấp hệ thống cơ sở lý luận vững chắc, phương pháp thiết kế công cụ đo lường và kỹ thuật xử lý số liệu toán học thống kê ứng dụng trong khoa học giáo dục.
  4. Các bậc cha mẹ có con trong giai đoạn tiền tiểu học (5-6 tuổi): Phụ huynh tìm thấy các chỉ dẫn tâm lý học thực tế để thấu hiểu khủng hoảng tâm lý tuổi lên năm, học cách kiềm chế xu hướng can thiệp bao bọc con quá mức, từ đó biết cách thiết lập môi trường gia đình tôn trọng, khuyến khích con độc lập đối mặt và tháo gỡ các vấn đề thường nhật.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lứa tuổi 5-6 tuổi là giai đoạn vàng để rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề qua trò chơi đóng vai?

Ở giai đoạn 5-6 tuổi, trẻ có bước nhảy vọt về nhận thức, ngôn ngữ mạch lạc và nhu cầu giao tiếp xã hội mở rộng vượt bậc. Trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo, nơi trẻ tái tạo thế giới người lớn. Thông qua việc đóng vai, trẻ thử nghiệm các vai trò xã hội khác nhau và trải nghiệm các quy tắc ứng xử, biến các xung đột giả định thành cơ hội vàng để trẻ học cách thương lượng, kiểm soát cảm xúc bản thân một cách tự nhiên và an toàn nhất.

Quy trình giải quyết vấn đề của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi được cụ thể hóa như thế nào?

Quy trình được chuẩn hóa qua 3 giai đoạn khoa học: Giai đoạn 1 là Nhận biết vấn đề, trẻ định hình nguyên nhân bất đồng thông qua quan sát nét mặt, lời nói của bạn chơi; Giai đoạn 2 là Lựa chọn giải pháp, trẻ trao đổi, thương lượng và đề xuất các phương án xử lý bằng ngôn ngữ; Giai đoạn 3 là Thực hiện và đánh giá, trẻ bắt tay thực thi thỏa thuận chung và cảm nhận hiệu quả duy trì hoạt động chơi của cả nhóm.

Khi xảy ra mâu thuẫn tranh giành đồ chơi trong góc bán hàng, giáo viên nên can thiệp ra sao?

Giáo viên tuyệt đối không vội vàng phân xử hay thu hồi đồ chơi. Thay vào đó, giáo viên thực hiện nguyên tắc 3 bước: Lùi lại quan sát trong khoảng từ 1 đến 2 phút để trẻ tự dàn xếp; nếu xung đột leo thang, giáo viên nhập vai với tư cách khách mua hàng để đưa ra câu hỏi gợi mở như "Bác bán hàng ơi, hai bác cùng bán cho tôi món hàng này được không?"; hướng dẫn trẻ nhận diện cảm xúc của bạn và tự chọn phương án chia sẻ lượt chơi.

Bộ công cụ đánh giá kỹ năng giải quyết vấn đề của đề tài dựa trên những căn cứ nào?

Hệ thống tiêu chí được xây dựng dựa trên sự đối chiếu giữa mục tiêu Chương trình Giáo dục Mầm non mới và 4 chuẩn kỹ năng xã hội thuộc Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi. Bộ công cụ gồm 3 tiêu chí lớn (Nhận biết vấn đề, Lựa chọn giải pháp, Kiểm soát cảm xúc) được phân định thành 3 mức độ rõ ràng: Mức 3 (Trên đạt - tự chủ hoàn toàn), Mức 2 (Đạt - cần gợi ý nhẹ), Mức 1 (Chưa đạt - hoàn toàn thụ động), đảm bảo tính đo lường chuẩn xác và dễ áp dụng.

Biện pháp nào đem lại sự chuyển biến mạnh mẽ nhất trong quá trình can thiệp thực nghiệm?

Biện pháp "Tăng cường sử dụng bài tập tình huống giả định trong tổ chức trò chơi" tạo ra bước chuyển biến lớn nhất. Nhờ việc giáo viên chủ động cài cắm các xung đột có chủ đích mang tính mở, trẻ được rèn luyện phản xạ đối thoại thường xuyên. Sau thời gian thực nghiệm, biện pháp này đã giúp đẩy tỷ lệ trẻ nhóm thực nghiệm tự đưa ra giải pháp giải quyết thành công vấn đề lên mức 56,7%, vượt trội hoàn toàn so với cách tiếp cận truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động chủ đạo là trò chơi đóng vai theo chủ đề trong trường mầm non.
  • Khảo sát thực trạng trên 435 trẻ và 60 giáo viên tại 4 trường mầm non thành phố Thái Nguyên chỉ ra thực tế kỹ năng của trẻ còn hạn chế, đồng thời chỉ rõ sự lúng túng trong phương pháp tổ chức của giáo viên.
  • Đề xuất hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ: kiến tạo môi trường vật chất mở, cài đặt bài tập tình huống giả định và chuẩn hóa kế hoạch hoạt động góc theo hướng lấy trẻ làm trung tâm.
  • Kiểm chứng thực nghiệm đối chứng trên 60 trẻ tại Trường Mầm non 19/5 Tân Lập khẳng định tính hiệu quả vượt trội: Nâng tỷ lệ trẻ đạt mức độ xuất sắc lên 56,7% (tăng 36,7%) và giảm tỷ lệ chưa đạt xuống chỉ còn 6,6%.
  • Đóng góp bộ công cụ tiêu chí đánh giá chuẩn hóa 3 cấp độ, có khả năng ứng dụng rộng rãi và chuyển giao hiệu quả cho toàn bộ hệ thống cơ sở giáo dục mầm non trong chu kỳ kế hoạch 12 tháng tiếp theo.

Để xây dựng một thế hệ trẻ tự tin, bản lĩnh và linh hoạt thích ứng với kỷ nguyên mới, các nhà trường và giáo viên mầm non hãy bắt đầu thay đổi tư duy sư phạm ngay hôm nay: Trao quyền cho trẻ được tự trải nghiệm, tự thương lượng và tự giải quyết vấn đề ngay từ chính những góc chơi diệu kỳ hằng ngày.