CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ MẶC HỘI CHỨNG RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm trẻ em Tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa- xã hội mà có các quy định khác nhau về độ tuổi trẻ em. Đặc điểm chung của trẻ em là thường được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm, sinh lí-nhân cách của con người.
Và cần có sự giáo dục, giúp đỡ, quan tâm, chăm sóc từ phía gia đình, nhà trường và xã hội để trẻ có thể phát triển một cách tốt nhất. Theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em: “Trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ đó quy định tuổi thành niên lớn hơn” [9] Ở Việt Nam theo Luật Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11, ngày 15/06/2004 và Luật trẻ em số 102/2016/QH11, ngày 05/04/2016 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều quy định rõ: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Khái niệm hội chứng Theo y học: Định nghĩa hội chứng của một chứng bệnh là do nhiều nguyên nhân khác nhau tạo thành – tạo thành một hội chứng. Theo từ điển Tiếng Việt, Hội chứng là tập hợp các triệu chứng cùng xuất hiện của bệnh.
[28] Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Hội chứng (Syndrome) là một tập hợp các dấu hiệu bệnh và triệu chứng có mối tương quan với nhau và thường với một bênh cụ thể. Khái niệm rối loạn phổ tự kỷ Quan niệm hiện đại về Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) của Kanner là Tự kỷ (Autism), rối loạn tự kỷ (Autistic-disorder) và xếp vào phạm trù rộng hơn là RLPTK (Autism Spectrum Disorder- ASD). RLPTK bao gồm: Hội chứng tự kỷ, hội chứng Asperger, rối loạn bất hòa tuổi ấu thơ, hội chứng rett…Tất cả rối loạn thuộc về phổ tự kỷ đều có thiếu hụt trong chức năng giao tiếp và xã hội, nhưng chúng khác nhau về mức độ, khởi phát và tiến triển theo thời gian. Thuật ngữ RLPTK được xem là đồng nghĩa với rối loạn phát triển diện rộng (Pervasive Developmental Disorder- PDD).
Nhiều quan điểm cho rằng dải RLPTK bao gồm hội chứng tự kỷ ở giữa gối lên hội chứng Asperger, rối loạn bất hòa tuổi ấu thơ và hội chứng Rett. Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ đã đưa ra định nghĩa: “ASD là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội”. [31] Dưới góc nhìn của tâm lí học: RLPTK là một rối loạn phát triển phức tạp mà có thể gây ra vấn đề tư duy (thinking), cảm giác (feeling), ngôn ngữ và khả năng liên quan đến những người khác. Đây là những rối loạn thần kinh, có nghĩa là nó ảnh hưởng đến chức năng của não bộ.
Tác động của hội chứng RLPTK và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng là khác nhau trong mỗi người (American Psychiatric Association). Các đặc trưng của hội chứng RLPTK (National Institute of Mealth-USA) gồm: - Các vấn đề về xã hội hiện tại bao gồm khó khăn giao tiếp và tương tác với người khác. - Các hành vi lặp đi lặp lại cũng như các sở thích hoặc hoạt động hạn chế. 17 - Các biểu hiện thường được ghi nhận trong hai năm đầu đời.
- Các biểu hiện gây ra tổn hại đối với các chức năng xã hội của một cá nhân ở trường học hoặc tại nơi làm việc hoặc các lĩnh vực khác của cuộc sống. Rối loại phổ tự kỷ được Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các rối loạn tâm thần - bản lần thứ 5(DSM-5) mô tả là một dạng khuyết tật phát triển với các đặc trưng cơ bản là: khiếm khuyếtvề giao tiếp qua lại và tương tác xã hội; hành vi hạn hẹp và thường lặp đi lặp lại. [32] Ở Việt Nam một số tác giả cũng đưa ra các khái niệm về RLPTK như sau: RLPTK là một bệnh lý thần kinh bao gồm những khiếm khuyết nặng nề về khả năng tương tác và giao tiếp xã hội đi kèm với những quan tâm và hoạt động bó hẹp, định hình. Tự kỷ là một hội chứng rối loạn phát triển ở trẻ em.
[4] Trong cuốn sách “Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản” GS Ts. Nguyễn Thị Hoàng Yến nêu ra thuật ngữ về trẻ mắc hội chứng RLPTK như sau: Thuật ngữ này dùng để chỉ những cá nhân có vấn đề về tương tác xã hội, về giao tiếp và có những mối quan tâm và những hoạt động lặp lại, rập khuôn thời kỳ 36 tháng tuổi. [17] Tác giả Nguyễn Thị Mai Lan đưa ra khái niệm về rối loạn phổ tự kỷ như sau: “Rối loạn phổ tự kỷ là một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, người bị rối loạn phổ tự kỷ có những rối loạn về nhiều mặt, nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ xã hội và hành vi”. Khái niệm hội chứng rối loạn phổ tự kỷ Thái độ giao tiếp của trẻ bị RLPTK có thể khác biệt từ hoàn toàn hờ hững với người khác, đến muốn tham gia nhưng không biết làm cách nào, hoặc “thân thiện thái quá”.
Một số người sẽ đáp ứng khi được giao tiếp nhưng họ không tự khởi động sự tương tác với người khác, nổ lực tương tác của họ 18 có thể thấy kỳ lạ, lặp đi lặp lại hoặc bất thường. Họ có thể bị kém kỹ năng giao tiếp và thường gặp khó khăn trong việc kết bạn và gia nhập cuộc chơi, và họ không nhận thức được cảm xúc của người khác. Trở ngại khi truyền đạt bằng lời nói hoặc truyền đạt không dùng lời nói là một đặc tính khác thường của trẻ RLPTK. Một số trẻ bị RLPTK có thể hoàn toàn không nói, một số khác có thể nói được chút ít hoặc nhại lời người khác.
Một số trẻ bị RLPTK có thể có vốn từ nhiều nhưng lại gặp khó khăn khi dùng ngôn ngữ để giao tiếp. Nhiều trẻ biểu lộ sự rối loạn hoặc bất thường trong cách nói chuyện, hoặc nói quá nhiều về một đề tài. Các chỉ dẫn phức tạp, chuyện nói đùa, lời châm biếm hoặc và các tình huống xúc động có thể là những điều mà trẻ RLPTK khó hiểu được. Trẻ bị RLPTK có thể chơi đồ chơi và các vật khác một cách lạ lùng, trẻ bị hội chứng RLPTK gặp trở ngại trong việc chơi các trò chơi một cách sáng tạo và tham gia các trò chơi giả vờ với người khác.
Trẻ còn có thể tạo ra những thói quen nhằm giúp trẻ chống đối với môi trường gây rối cho trẻ. Trẻ có thể trở nên say mê quá độ với đồ vật, nơi chốn hoặc đề tài nào đó, trẻ có thể quen có những cử động thân thể, lặp lại như phẩy tay, đi bằng đầu ngón chân. Như vậy có thể hiểu: Hội chứng rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder(ASD)) là một tên gọi để mô tả một nhóm các hội chứng rối loạn thâm nhập vào toàn bộ sự phát triển (pervasive developmental disorders) với khiếm khuyết chủ yếu trong các lĩnh vực quan hệ giao tiếp, truyền đạt, trí tưởng tượng/tính linh hoạt của khả năng suy nghĩ, khả năng sinh hoạt và niềm vui thích hạn hẹp. Khái niệm trẻ mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ Cuốn sổ tay phân loại và chuẩn đoán các rối loạn tâm thần, phiên bản IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – DSM-IV) [36] nêu: 19 A.
Một tập hợp gồm sáu hoặc nhiều hơn các tiêu chí của nhóm (1), (2) và (3), trong đó có ít nhất 2 tiêu chí từ nhóm (1) và một tiêu chí từ mỗi nhóm (2) và (3). Giảm khả năng định tính trong tương tác xã hội thể hiện ở ít nhất hai trong số các biểu hiện sau: a. Giảm khả năng rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ đa dạng như ánh mắt, nét mặt, các tư thế của cơ thể và các cử chỉ để tạo ra sự liên hệ mang tính chất xã hội. Không có khả năng xây dựng các mối quan hệ đối với bạn đồng trang lứa phù hợp với mức độ phát triển.
Thiếu sự đòi hỏi tự nhiên đối với việc chia sẻ niềm vui, sở thích, các mối quan tâm hay các thành tích đạt được với người khác (ví dụ như không bao giờ mang hay chỉ cho người khác xem thứ mình thích). Thiếu sự trao đổi qua lại về tình cảm hoặc xã hội. Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện ít nhất một trong số những biểu hiện sau: a. Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói (không có ham muốn bù đắp lại hạn chế này bằng các giao tiếp khác).
Với những cá nhân có thể nói được thì lại suy giảm khả năng thiết lập và duy trì hội thoại. Sử dụng ngôn ngữ trùng lặp và rập khuôn hoặc sử dụng ngôn ngữ khác thường. Thiếu những trò chơi đóng vai đa dạng, tự phát và bắt chước mang tính xã hội phù hợp với mức độ phát triển. (3) Những kiểu hành vi, những mối quan tâm và những hoạt động lặp lại và rập khuôn thể hiện ít nhất một trong các biểu hiện sau: a.
Quá bận tâm đến một số những mối quan tâm có tính 20 chất rập khuôn và bó hẹp với một mức độ tập trung hoặc cường độ bất thường. Gắn kết cứng nhắc với những thủ tục hoặc nghi thức riêng biệt và không mang tính chức năng. Những biểu hiện hành động mang tính lặp lại hoặc rập khuôn máy moc(ví dụ gõ tay hoặc vặn tay, hoặc có kiểu di chuyển cả thân người một cách phức tạp), đi trên các đầu ngón chân. Bận tâm dai dẳng với các bộ phận cơ thể.
Chậm hoặc thực hiện một cách không bình thường các chức năng ở ít nhất một trong các lĩnh vực sau, với mốc khởi đầu tuổi lên 3: (1) – Tương tác xã hội, (2) – Sử dụng ngôn ngữ giao tiếp xã hội, (3) – Chơi/ hoạt động mang tính biểu tượng tưởng tượng. Hội chứng không phải do rối loạn Rett hay rối loạn bất hòa tuổi ấu thơ. Từ những dấu hiệu trên có thể hiểu: Trẻ mắc hội chứng RLPTK là những người dưới 16 tuổi có các dấu hiệu, rối loạn bất thường về hành vi, gây khó khăn trong phát triển về nhận thức, tư duy, giao tiếp, kỹ năng xã hội. Khái niệm giáo dục hòa nhập * Giáo dục hòa nhập Thuật ngữ giáo dục hoà nhập được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻ ngoại lệ được hoà nhập, qui thuộc vào trường hoà nhập.
Giáo dục hoà nhập là phương thức giáo dục mọi trẻ em, trong đó có trẻ mắc hội chứng RLPTK trong lớp học bình thường của trường học.