Khóa luận giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên xã Vạn Thắng Ba Vì

Khóa luận nghiên cứu thực trạng giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên tại xã Vạn Thắng huyện Ba Vì. Phân tích nhận thức, nội dung, phương pháp và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

71
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách tiếp cận giáo dục giới tính thanh thiếu niên xã Vạn Thắng hiệu quả

Giáo dục giới tính thanh thiếu niên xã Vạn Thắng đang trở thành một nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi xã hội nhanh chóng. Theo khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Minh Tâm (Trường Đại học Lâm Nghiệp, 2022), nhiều thanh thiếu niên tại địa phương còn thiếu kiến thức cơ bản về giới tính, sức khỏe sinh sảnmối quan hệ lành mạnh. Việc thiếu hụt thông tin chính thống khiến các em dễ tiếp cận nguồn tin sai lệch từ mạng xã hội hoặc bạn bè, dẫn đến hành vi rủi ro. Giáo dục giới tính không chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức sinh học mà còn bao gồm định hướng giá trị đạo đức, kỹ năng ra quyết địnhtôn trọng bản thân – người khác. Nghiên cứu cho thấy, khi được tiếp cận chương trình giáo dục giới tính bài bản, thanh thiếu niên có xu hướng trì hoãn quan hệ tình dục, sử dụng biện pháp bảo vệtự tin hơn trong giao tiếp. Do đó, xây dựng mô hình giáo dục phù hợp với đặc thù xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì – nơi có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế – là bước đi chiến lược để nâng cao chất lượng phát triển con người toàn diện.

1.1. Đặc điểm tâm sinh lý thanh thiếu niên tại xã Vạn Thắng

Độ tuổi thanh thiếu niên (10–19 tuổi) là giai đoạn chuyển tiếp mạnh mẽ về thể chất, cảm xúc và nhận thức. Tại xã Vạn Thắng, nhiều em bước vào tuổi dậy thì mà không được chuẩn bị kiến thức cần thiết. Khảo sát trong khóa luận cho thấy hơn 60% học sinh không hiểu rõ về chu kỳ kinh nguyệt, mộng tinh hay thay đổi tâm lý. Sự thiếu hiểu biết này dẫn đến hổ thẹn, lo âutránh né khi đối diện với cơ thể mình. Đặc biệt, nam thanh niên thường có xu hướng tìm kiếm thông tin qua internet thiếu kiểm soát, trong khi nữ thiếu niên lại ít được khuyến khích đặt câu hỏi. Đây là rào cản lớn trong việc xây dựng chương trình giáo dục giới tính phù hợp.

1.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong giáo dục giới tính

Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò cầu nối giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong hoạt động giáo dục giới tính. Tại xã Vạn Thắng, họ tổ chức các buổi tư vấn nhóm, hội thảo chuyên đềphiếu khảo sát ẩn danh để thu thập nhu cầu thực tế. Nhờ sự can thiệp chuyên nghiệp, nhiều phụ huynh đã thay đổi quan điểm từ “giáo dục giới tính là dạy tình dục” sang hiểu rằng đây là giáo dục giá trị sống. Nhân viên công tác xã hội cũng phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ để triển khai mô hình “Bạn đồng trang lứa làm giáo dục viên”, giúp thông điệp tiếp cận tự nhiên và gần gũi hơn với thanh thiếu niên.

II. Thách thức trong giáo dục giới tính thanh thiếu niên xã Vạn Thắng hiện nay

Mặc dù nhu cầu giáo dục giới tính ngày càng rõ rệt, xã Vạn Thắng vẫn đối mặt với nhiều thách thức nội tại và ngoại vi. Khảo sát từ khóa luận tốt nghiệp cho thấy 73% phụ huynh coi chủ đề này là “tế nhị, khó nói”, trong khi 45% giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về nội dung giáo dục giới tính. Nhiều gia đình vẫn giữ quan niệm truyền thống rằng nói về giới tính sẽ “kích thích tò mò” ở trẻ, dẫn đến tránh né hoặc cấm đoán. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất tại trường học còn hạn chế, thiếu phòng tư vấn riêng, tài liệu chuẩn hóa và thời lượng giảng dạy chính khóa. Thanh thiếu niên vì thế phải tìm kiếm thông tin qua mạng xã hội, nơi tràn ngập nội dung gây hiểu lầm hoặc khiêu dâm. Sự mất cân đối giữa cung – cầu kiến thức khiến nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, lây nhiễm bệnh qua đường tình dụcbạo lực giới gia tăng. Đây là hồi chuông cảnh tỉnh cho hệ thống giáo dục địa phương cần hành động kịp thời.

2.1. Nhận thức hạn chế của phụ huynh và giáo viên

Theo bảng khảo sát trong tài liệu gốc, chỉ 28% phụ huynh thường xuyên trao đổi với con về vệ sinh tuổi dậy thì, và dưới 10% đề cập đến quan hệ tình dục an toàn. Nhiều người cho rằng “đợi con lớn rồi tự biết” hoặc “nhà trường sẽ dạy”. Tuy nhiên, giáo viên cũng gặp khó do thiếu chương trình khung, tài liệu hướng dẫnkỹ năng xử lý tình huống nhạy cảm. Sự thiếu phối hợp giữa gia đình – nhà trường – cộng đồng khiến giáo dục giới tính trở thành “vùng trống” trong hành trình trưởng thành của thanh thiếu niên.

2.2. Thiếu nguồn lực và phương pháp tiếp cận phù hợp

Tại xã Vạn Thắng, các hoạt động giáo dục giới tính chủ yếu diễn ra dưới dạng sinh hoạt Đoàn hoặc chương trình ngoại khóa, chưa được hệ thống hóa. Thiếu giảng viên chuyên trách, tài liệu minh họa trực quankhông gian an toàn để đặt câu hỏi khiến hiệu quả truyền thông giảm sút. Ngoài ra, phương pháp truyền thống như thuyết giảng một chiều không thu hút thanh thiếu niên hiện đại, vốn quen với tương tác sốhọc qua trải nghiệm. Cần thiết kế lại toàn bộ hình thức giáo dục để phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổibối cảnh nông thôn.

III. Phương pháp giáo dục giới tính hiệu quả cho thanh thiếu niên xã Vạn Thắng

Để vượt qua thách thức, cần áp dụng phương pháp giáo dục giới tính linh hoạt, dựa trên bằng chứng thực địanguyên tắc lấy người học làm trung tâm. Khóa luận của Lê Minh Tâm đề xuất mô hình “3 trong 1”: kết hợp gia đình – nhà trường – cộng đồng trong một hệ sinh thái hỗ trợ. Cụ thể, nhà trường tích hợp nội dung giáo dục giới tính vào môn Giáo dục công dân, Sinh họcHoạt động trải nghiệm. Phụ huynh được tập huấn qua câu lạc bộ cha mẹ, nơi chia sẻ kỹ năng giao tiếp cởi mởxử lý khủng hoảng tuổi dậy thì. Cộng đồng – thông qua Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ – tổ chức cuộc thi tìm hiểu, kịch ngắn, triển lãm tranh để lan tỏa thông điệp một cách sáng tạo. Đặc biệt, ứng dụng công nghệ số như fanpage địa phương, video ngắn hoặc chatbot ẩn danh giúp thanh thiếu niên tiếp cận thông tin riêng tưkhông phán xét.

3.1. Tích hợp giáo dục giới tính vào chương trình học chính khóa

Việc lồng ghép nội dung giáo dục giới tính vào chương trình hiện có giúp tiết kiệm nguồn lực và tăng tính liên tục. Ví dụ, trong môn Sinh học lớp 8, có thể mở rộng bài “Cơ thể người” sang chủ đề “Thay đổi tuổi dậy thì và cách chăm sóc bản thân”. Môn GDCD có thể lồng ghép kỹ năng từ chối, tôn trọng giới, phòng chống xâm hại. Điều này đòi hỏi bộ tài liệu chuẩn do Sở Giáo dục phối hợp với chuyên gia công tác xã hội biên soạn, đảm bảo khoa học, phù hợp văn hóaphân tầng theo độ tuổi.

3.2. Tăng cường vai trò của bạn đồng trang lứa và công nghệ

Mô hình “Peer Educator” (giáo dục viên đồng trang lứa) đã được thử nghiệm thành công tại xã Vạn Thắng. Những học sinh tiêu biểu, được đào tạo kỹ năng lắng nghe, chia sẻchuyển tiếp thông tin, trở thành cầu nối tin cậy. Bên cạnh đó, fanpage “Tuổi trẻ Vạn Thắng” cung cấp infographic, Q&A ẩn danhliên kết tư vấn miễn phí. Công nghệ giúp vượt qua rào cản xấu hổ, khoảng cách địa lýthiếu thời gian, đặc biệt hiệu quả với thanh thiếu niên sống xa trung tâm xã.

IV. Kết quả thực tiễn từ hoạt động giáo dục giới tính tại xã Vạn Thắng

Sau 6 tháng triển khai mô hình thí điểm, khóa luận tốt nghiệp ghi nhận những kết quả tích cực. Tỷ lệ thanh thiếu niên hiểu đúng về biện pháp tránh thai tăng từ 32% lên 68%. Số em dám đặt câu hỏi về sức khỏe sinh sản trong lớp học tăng gấp đôi. Đặc biệt, 85% phụ huynh tham gia câu lạc bộ cha mẹ cho biết họ tự tin hơn khi nói chuyện với con về tuổi dậy thì. Các hoạt động ngoại khóa như “Ngày hội tuổi teen” hay “Kịch ngắn về xâm hại” thu hút hơn 200 học sinh, tạo ra không gian an toàn để thảo luận. Dù chưa thể thay đổi toàn diện, nhưng những dấu hiệu ban đầu cho thấy giáo dục giới tính có thể bén rễ ngay cả ở khu vực nông thôn nếu có chiến lược phù hợp, sự đồng thuận cộng đồnghỗ trợ chuyên môn từ nhân viên công tác xã hội.

4.1. Thay đổi nhận thức của thanh thiếu niên sau can thiệp

Khảo sát sau can thiệp cho thấy thanh thiếu niên không còn coi giáo dục giới tính là “xấu hổ” mà xem đó là quyền được biết. Nhiều em chủ động tìm hiểu bệnh lây truyền qua đường tình dục, dấu hiệu mang thai sớmnơi hỗ trợ khẩn cấp. Đặc biệt, nữ sinh thể hiện ý thức bảo vệ bản thân rõ rệt hơn, biết từ chối áp lực quan hệ và tìm người lớn tin cậy khi gặp nguy hiểm.

4.2. Phản hồi từ phụ huynh và cán bộ địa phương

Phụ huynh ghi nhận giảm xung đột trong giao tiếp với con về vấn đề nhạy cảm. Cán bộ Đoàn xã cho biết tỷ lệ học sinh bỏ học do mang thai giảm rõ rệt trong năm học 2021–2022. Hội Phụ nữ đề xuất nhân rộng mô hình sang các xã lân cận, coi đây là sáng kiến cộng đồng hiệu quả trong phòng chống bạo lực giớinâng cao chất lượng dân số.

V. Tương lai của giáo dục giới tính thanh thiếu niên xã Vạn Thắng

Để giáo dục giới tính tại xã Vạn Thắng phát triển bền vững, cần chính sách hỗ trợ dài hạn từ cấp huyệntỉnh. Trước mắt, nên đào tạo đội ngũ giáo viên cốt cán, biên soạn tài liệu địa phương hóa, và thiết lập phòng tư vấn học đường. Về lâu dài, cần lồng ghép chủ đề này vào chiến lược phát triển thanh niên của huyện Ba Vì. Đồng thời, mở rộng hợp tác với trường đại học, tổ chức phi chính phủ để tiếp cận nguồn lực chuyên mônkinh phí. Với nền tảng ban đầu từ khóa luận của Lê Minh Tâm, xã Vạn Thắng hoàn toàn có thể trở thành điểm sáng trong giáo dục giới tính nông thôn, góp phần xây dựng thế hệ trẻ tự tin, trách nhiệmkhỏe mạnh toàn diện.

5.1. Đề xuất chính sách và nhân rộng mô hình

Cần đề xuất Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì ban hành kế hoạch hành động về giáo dục giới tính giai đoạn 2024–2030, trong đó xã Vạn Thắngđiểm thí điểm. Mô hình thành công nên được tài liệu hóa, đánh giá độc lậpchia sẻ kinh nghiệm qua hội thảo liên xã. Việc nhân rộng cần linh hoạt theo đặc thù văn hóa từng địa phương.

5.2. Tăng cường hợp tác đa ngành và nguồn lực bền vững

Sự tham gia của ngành Y tế, Giáo dục, Đoàn thểtổ chức xã hội là chìa khóa. Có thể kêu gọi tài trợ từ các dự án phát triển cộng đồng, doanh nghiệp trách nhiệm xã hội để duy trì hoạt động thường niên. Đồng thời, đào tạo nhân viên công tác xã hội địa phương để đảm bảo tính chủ độngbền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Hoạt động giáo dục giới tình cho thanh thiếu niên tại xã vạn thắng huyện ba vì

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CỦA THANH THIẾU NIÊN 1. Cơ sở lý luận về hoạt động Giáo dục giới tính cho Thanh thiếu niên 1. Các khái niệm cơ bản 1.

Khái niệm về giới và giới tính  Khái niệm về giới. “Giới là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản giống nhau” (một số vấn đề về tâm lý và giới tính - Bùi Ngọc Oánh Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh). Giới là một phạm trù được sử dụng để nói về các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính do sự kỳ vọng các cộng đồng xã hội gán cho; là sự khác nhau giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội, mang tính xã hội, không đồng nhất và có thể thay đổi được (Trích lược Tài liệu chuyên khảo Giới và phát triển trường Đại học Lao động xã hội, 2008, trang 12). Sau khi nghiên cứu các khái niệm thì người nghiên cứu chọn sử dụng khái niệm giới của tài liệu chuyên khảo Giới và phát triển trường Đại học Lao động xã hội, 2008, trang 12.

Bởi đây là khái niệm phản ánh đúng tính chất của giới về mặt xã hội, nhấn mạnh vai trò xã hội của nam và nữ.  Khái niệm về giới tính. Giới tính trước hết là những đặc tính hay đặc điểm của giới (theo Thái Thị Ngọc Dư, giới và phát triển, 2006). Bao gồm các mặt tâm lý, sinh lý, mặt xã hội.

Về mặt tâm lý: Nam – nữ có tâm lý khác nhau. Nữ có khả năng tư duy cao trong những lĩnh vực đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo còn nam mạnh về đường lối tư duy. Tình cảm ở nam là sự mạch lạc, rõ ràng, ở nữ thì thường không rõ ràng, dễ chan hòa giữa tình cảm này và tình cảm khác. Về mặt sinh lý: Có những biến đổi trong cơ thể nam như vỡ giọng, mọc râu ở nam,….; ở nữ ngực nở, có khả năng mang thai… 5 Về mặt xã hội: Xã hội đánh giá nam nữ khác nhau.

Xã hội đòi hỏi nam phải chững chạc, dũng cảm, cao thượng còn nữ giới thì phải nhu mì kín đáo, thủy chung, đảm đang. Xã hội phân công lao động nam – nữ khác nhau. Nam thường làm việc nặng, đi xa, nguy hiểm còn nữ thì thường được ưu tiên làm việc nhẹ nhàng, đòi hỏi sự khéo léo. Như vậy có thể hiểu giới tính là tất cả những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ (theo Thái Thị Ngọc Dư, giới và phát triển, 2006).

Giới tính được hiểu là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt sinh học, mang tính bẩm sinh, đồng nhất và không thể thay đổi. Ví dụ nam có tinh trùng, nữ có kinh nguyệt, mang thai,… (Trích lược Tài liệu chuyên khảo giới và phát triển, trường Đại học Lao động xã hội, 2008, trang 13). Ở trong bài viết của mình người nghiên cứu sử dụng khái niệm giới tính của tài liệu chuyên khảo giới và phát triển của trường Đại học Lao động xã hội, 2008, trang 13. Bởi khái niệm này miêu tả đúng tính chất của giới tính về mặt sinh học của con người.

Sự khác biệt giữa giới và giới tính. Người nghiên cứu sử dụng hai khái niệm giới tính và giới của tài liệu chuyên khảo Giới và phát triển trường Đại học Lao động xã hội, 2008 để so sánh. Từ sự so sánh này sẽ giúp nhấn mạnh khái niệm giới tính mà người nghiên cứu sử dụng, tránh sự hiểu nhầm trong các khái niệm.1: So sánh khái niệm giới và giới tính Giới tính Giới - Đặc trưng sinh học, bẩm sinh - Đặc trưng xã hội, văn hóa, truyền Ví dụ: Nam có tinh trùng, nữ mang thai, thống, con người thông qua học hỏi nuôi con,… mới có. Ví dụ: Nữ chăm sóc con, nội trợ,…Nam lo kinh tế,… - Có sự đồng nhất trên toàn thế giới - Không đồng nhất trên toàn thế giới.

Ví dụ: phụ nữ trên toàn thế giới đều Ví dụ: ở Nhật thì phụ nữ ở nhà chăm sinh con, nuôi con,… con,.ở Mỹ thì phụ nữ, nam giới đều có thể làm lãnh đạo. - Mang tính chất ổn định và không thay - Có thể thay đổi theo thời gian do các đổi nhân tố bên ngoài. Ví dụ: Nam giới không thể nuôi con Ví dụ: phụ nữ thời xưa không được đi bằng sữa,… học, ngày nay thì phụ nữ có thể học và đỗ cao. Nam giới xưa không thể ở nhà lo nội trợ thì nay có thể.

Mặc dù như vậy nhưng theo quan điểm của người nghiên cứu thì với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật thì giới tính giờ đây có thể thay đổi được, từ đó dẫn đến giới thay đổi. Khái niệm về giáo dục Giáo dục là sự truyền thụ kinh nghiệm của người này cho người khác, từ thế hệ trước cho các thế hệ sau. Giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của con người được giáo dục. Khái niệm về giáo dục giới tính.

Giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho thiếu nhi, thanh thiếu niên có một thái độ đúng đắn với các vấn đề giới tính (theo Nguyễn Hữu Dũng, giáo dục giới tính, 1999). Theo Wikipedia thì giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục, sinh sản, quan hệ tình dục, sức khoẻ sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai, và các khía cạnh khác của thái độ tình dục loài người. Những cách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha mẹ, người chăm sóc, các chương trình trường học và các chiến dịch sức khoẻ cộng đồng. Theo TS tâm lý Huỳnh Văn Sơn thì giáo dục giới tính hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhiều nội dung: Giáo dục giới tính cho trẻ, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, giáo dục về giới tính tuổi dậy thì, giáo dục về tình bạn - tình yêu, tâm sinh lý hôn nhân.TS Bùi Ngọc Oánh thì giáo dục giới tính gồm 4 nội dung chính sau: - Những tri thức và tâm sinh lý người trong đó có những đặc điểm về sinh lý tính dục (các hiện tượng như: kinh nguyệt, sự phát triển cơ thể, sinh nở, kiến thức về sức khoẻ giới tính, các bệnh lý tình dục,.

- Những đặc điểm giới tính về đạo đức, về xã hội thẫm mỹ như cách cư xử với mọi người, với bạn khác giới, tác phong tư thế và phẩm chất đạo đức theo giới tính riêng, quan niệm về cái đẹp giới tính, những vấn đề pháp luật liên quan đến cuộc sống giới tính và gia đình (luật hôn nhân gia đình, luật phòng chống bạo hành gia đình, bình đẳng giới,…). - Những quan hệ về bạn khác giới và tình yêu nam nữ như bản chất của tình yêu, sự cư xử trong tình yêu, quy luật của tình yêu, việc xây dựng nên một tình yêu chân thực, chân chính. 8 - Những vấn đề về hôn nhân và đời sống gia đình như bản chất của hôn nhân, điều kiện để có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, sự chuẩn bị của cuộc sống gia đình. Khái niệm thanh thiếu niên.

Thanh thiếu niên hay còn gọi là tuổi thần tiên, tuổi ô mai, tuổi teen (12- 18 tuổi, trong tiếng Anh dải số này được đọc với đuôi là "-teen" nên khoảng tuổi này được gọi là "teenage", và người trong giai đoạn này cũng được gọi là "teenager", "teenage boy/girl") là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành. Sự chuyển tiếp này liên quan tới những thay đổi về sinh học (ví dụ dậy thì), xã hội và tâm lý, dù những thay đổi về sinh học và tâm lý là dễ nhận thấy nhất. Về lịch sử, tuổi dậy thì thường gắn liền với tuổi teen (12-18) và sự bắt đầu của sự phát triển tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự bắt đầu giai đoạn dậy thì đã có một sự gia tăng trong thiếu niên (đặc biệt là nữ, như được thấy với dậy thì sớm); thỉnh thoảng tuổi thiếu niên được kéo dài tới sau cả tuổi teen (đặc biệt ở nam).

Những thay đổi này đã khiến việc định nghĩa một cách chắc chắn khung thời gian của tuổi thiếu niên trở nên khó khăn. Sự kết thúc của tuổi thiếu niên và sự khởi đầu của tuổi trưởng thành khác biệt theo từng quốc gia và bởi chức năng, và hơn nữa thậm chí bên trong một quốc gia hay nền văn hoá cũng có những độ tuổi khác nhau để một cá nhân được coi là (theo tuổi tác và pháp lý) đủ lớn để được xã hội tin tưởng giao phó một số trách nhiệm. Những cột mốc đó gồm, nhưng không hạn chế bởi, lái xe, có quan hệ tình dục hợp pháp, thực hiện nghĩa vụ quân sự hay tham gia một bồi thẩm đoàn, mua và uống rượu, bỏ phiếu, tham gia hợp đồng, cạnh tranh một số cấp giáo dục, và kết hôn. Tuổi thiếu niên thường đi kèm với sự gia tăng mức độ độc lập được phép từ phía cha mẹ hay người giám hộ và giảm bớt sự giám sát, trái ngược với giai đoạn thiếu niên (tiền thiếu niên).

Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi Thanh thiếu niên. Theo giáo trình Tâm lý học phát triển nhà xuất bản giáo dục 2008, giáo trình hành vi con người và môi trường xã hội trường Đại học Lao động xã hội 2010, thì đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi 12-18 tuổi là: Sang đầu tuổi thiếu niên 12-14 tuổi, có một sự phát triển đột biến về sinh lý, đặc biệt là sự phát triển nhanh của hệ cơ quan sinh dục làm cho giới tính và ý thức về giới tính của trẻ phát triển mạnh. Cơ thể trẻ lúc này diễn ra những thay đổi lớn (nam mọc râu, bể giọng, xuất hiện lông ở vùng kín, nổi mụn trứng cá, có hiện tượng mộng tinh…; nữ phát triển ngực, có kinh nguyệt, cơ quan sinh dục có sự thay đổi theo chiều hướng hoàn thiện hơn…Tất cả những hiện tượng trên đều do tác động của các hooc-môn sinh dục. Đặc điểm nổi bật của lứa tuổi này chính là thời kỳ phát dục.

Thời kỳ này các em bắt đầu quan tâm tới các bạn khác giới, có những rung động đầu đời, e dè và kín đáo trong giao tiếp hơn. Ở lứa tuổi này các em đã có thể thực hiện được chức năng sinh sản. Tuy nhiên, các em chưa thật sự trưởng thành về mặt cơ thể và nhất là về mặt xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ