Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 1.1 CÁC THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Giới tính và giáo dục giới tính Trong đời sống tâm sinh lí của con người, ngoài những hiện tượng thuộc về nhận thức, tình cảm, ý chí,… còn có nhiều hiện tượng khác như sự hình thành và phát triển sinh lý cơ thể, hiện tượng thụ thai, kinh nguyệt, sự dậy thì và những biểu hiện đặc trưng của chúng, tình yêu, hôn nhân, đời sống gia đình,… Những hiện tượng này vừa liên quan mật thiết với tâm lí lại vừa mang những sắc thái riêng của người nam và người nữ. Nhiều hiện tượng chỉ có ở nam hoặc nữ, nhưng lại tạo nên sự liên hệ giữa người nam và người nữ. Ngay từ thời cổ đại, giới tính đã được quan tâm tìm hiểu tuy rằng vẫn rất thô sơ và mang màu sắc cảm tính, mê tín. Từ thời xa xưa của văn minh loài người, giới tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các khảo luận về tình yêu như kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và “Bữa tiệc” của Platon… Trong đó các tác giả “không những đặt cơ sở những chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu mà còn cố gắng cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lí học tình dục”.
Khi nhân loại bước vào thời kỳ “Đêm trường trung cổ”, tôn giáo và nhà nước phong kiến đã lợi dụng sự ngu tối thất học của nhân dân, khẳng định sự không bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội và trong gia đình, cũng như trong lĩnh vực quan hệ tình dục. Họ đã gieo rắc những quan niệm cho rằng quan hệ nam nữ có tính chất tội lỗi, nhằm tuyên truyền chủ nghĩa cấm dục và khép sự ham muốn tính dục vào loại đê tiện, tượng trưng cho một điều xấu xa mà quỷ xa – tăng đã áp đặt cho loài 12 người. Nhưng thực ra việc tìm hiểu các vấn đề về tính dục vẫn được quan tâm, được tiến hành, chỉ để phục vụ cho sự ăn chơi sa đọa của tầng lớp vua quan phong kiến. Công tác nghiên cứu khách quan các vấn đề giới tính chỉ thực sự được tiến hành ở thời kỳ Phục hưng khi bộ môn Giải phẫu và Sinh lí bắt đầu phát triển.
Trong thời kỳ này, những khía cạnh của tính dục, nhất là xét về phương diện đạo đức và giáo dục, được người ta nghiên cứu tới. Vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 các đề tài nghiên cứu về giới tính được mở rộng hơn… Cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 các nhà khoa học J. Espinas (Pháp) … không những đã gắn sự phát triển quan hệ tính dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cả với yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hóa. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, V.
Lênin đã nói: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách.” Các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học về y học, giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học đã cố gắng xây dựng nền móng vững chắc cho nền khoa học giới tính và giáo dục giới tính theo quan điểm Mác – Xít. Như vậy, ta có thể thấy rằng giới tính là một vấn đề không mới và đã được nghiên cứu từ rất lâu trong cuộc sống của con người. Luận văn này đề cập đến vấn đề giới tính thế nhưng để hiểu rõ về khái niệm giới tính chúng ta cần phân biệt hai khái niệm giới và giới tính để tránh nhầm lẫn. Trước tiên, giới là một khái niệm rất phức tạp, được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau.
Giới có thể được hiểu theo mặt sinh học, là một tập hợp những đặc điểm sinh lí cơ thể đặc trưng ở con người. Những đặc điểm 13 sinh lý bao gồm những đặc điểm di truyền, những hệ cơ quan sinh lý cơ thể, điển hình và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh dục. Ở con người có hai loại hệ cơ quan sinh dục chính là hệ cơ quan sinh dục nam và hệ cơ quan sinh dục nữ, vì vậy loài người có hai giới là giới nam và giới nữ. Giới theo nghĩa này được hiểu là giới sinh học, giới di truyền.
Giới còn được hiểu theo góc độ xã hội là những đặc điểm mà xã hội đã tạo nên ở người nam và người nữ, là qui định của xã hội về người nam và người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ. Đó là giới xã hội. Giới xã hội thường bao gồm các vấn đề như: vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội… Những vấn đề này thường do xã hội qui định và biến đổi theo từng gia đoạn lịch sử, từng quốc gia, tùy theo truyền thống, phong tục tập quán của mỗi dân tộc… Tổng quát hơn có thể định nghĩa giới như sau: “Giới là một tập hợp người trong xã hội có những đặc điểm sinh học cơ bản giống nhau.” Tiếp theo, tìm hiểu khái niệm về giới tính. Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử dụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục,… Nhiều người quan niệm giới tính đồng nghĩa với tính dục hoặc với tình dục.
Đó là quan niệm chưa thực sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu về một mặt nào đó của giới tính. Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn. Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới. Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng.
Vì giới vừa bao gồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lý xã hội nên giới tính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội. Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng của giới giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia. Những đặc điểm giới tính có thể là những đặc điểm sinh lý cơ thể như cấu trúc và chức năng của các bộ phận cơ thể đặc biệt là hệ cơ quan sinh dục con người, sự phát triển (biến đổi về kích thước, hoàn thiện dần 14 về chức năng…) của chúng, những chức năng đặc biệt của hệ cơ quan sinh dục như: kinh nguyệt, sinh nở, sự vỡ giọng, mọc râu… những trạng thái bệnh lí của bộ phận sinh lí cơ thể ở nam và ở nữ và do mối quan hệ nam nữ tạo ra… Những đặc điểm giới tính cũng có thể là những đặc điểm về tâm lí, tính cách như sự dịu dàng, hiền hậu, sự kín đáo, tính cương trực, thẳng thắn, tính dũng mãnh,… Những đặc điểm trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa hai giới. Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt sinh học giữa giới này với giới kia.
Như vậy, ta có thể hiểu giới tính là toàn bộ những đặc điểm sinh học ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ. Đời sống giới tính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thể xuất hiện trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tính dục), những hiện tượng tâm lí đặc trưng ở mối giới, những hiện tượng tâm lí người trong mối quan hệ với người khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu…) Gần đây còn xuất hiện những biểu hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: các quan điểm yêu đương ngoài hôn nhân, tình dục ngoài hôn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữa những người khác giới… Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ… Do giới tính có nguồn gốc sinh vật nên đặc điểm của giới tính rất đa dạng. Trong cuộc sống hiên đại, việc trang bị những kiến thức về giới tính là vô cùng cần thiết. Giáo dục giới tính là một lĩnh vực phức tạp, có nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về vấn đề này.
Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiến hành giáo 15 dục giới tính khi các em vào thời lỳ chín muồi giới tính. Petrovxki đã khẳng định “Quan niệm đó không đúng bởi vì một loạt vấn đề liên quan đến giáo dục giới tính phải được giải quyết ngay từ thời kì thơ ấu” [5, tr. Một số ý kiến nhầm lẫn giáo dục giới tính với giáo dục tính dục hoặc giáo dục tình dục, giáo dục tình yêu. Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận của giới tính.
Sự thu hẹp phạm vi của giáo dục giới tính như vậy sẽ có thể đưa đến tác dụng phản diện hoặc hạn chế hiệu quả của giáo dục giới tính. Có một số người cho rằng, không nên giáo dục giới tính, vì như thế làm hoen ố tâm hồn thanh cao của các em, là thiếu tế nhị, không phù hợp với môi trường sư phạm, là “vẽ đường cho hươu chạy”. Serbakov đã nhận xét về quan niệm đó: “Trước đây trong một thời gian dài, có một số ý kiến cực kì sai lầm, cho rằng con người có khả năng tự định hướng một cách tự nhiên và hầu như tự động trước những vấn đề thuộc quan hệ thầm kín giữa nam và nữ; rằng việc thảo luận rộng rãi và toàn diện đề tài này, việc tuyên truyền những kiến thức, dù trên cơ sở khoa học chăng nữa cũng đều là thiếu đạo đức, dung tục và có khả năng đưa đến những quan tâm không lành mạnh về vấn đề quan hệ nam nữ và đưa đến tình trạng suy đồi đạo đức” [5, tr. Trong khi đó “chính việc thiếu kiến thức về những vấn đề này, cũng giống như mọi tình trạng dốt nát khác, lại là điều nguy hiểm và có phương hại đến tâm lí và đạo đức con người.” Gần đây, việc nghiên cứu về giáo dục giới tính đã được xã hội quan tâm nhiều, và được tiến hành một cách hệ thống, khoa học.
Dần dần, vấn đề này đã ngày càng được đánh giá đầy đủ, đúng đắn hơn. Quan niệm về giáo dục giới tính ngày càng hoàn thiện, cụ thể, rõ ràng.