Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 12 THPT 1. Phương pháp dạy học 1. Phương pháp Phương pháp hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất là hành vi có mục đích nhất định. Đó cũng là những cách thức, những con đường mà người ta cần đi theo để đạt được mục đích.
Theo cách hiểu như vậy thì phương pháp dạy học là những cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh có liên quan đến các hoạt động dạy và học, nhằm mục đích giáo dục và trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ.98] Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về phương pháp dạy học. Chúng ta thường gặp ba cách định nghĩa sau: - Thứ nhất, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kĩ năng và giáo dục học sinh theo mục tiêu của nhà trường.99] Định nghĩa này phản ánh một quan niệm cũ về vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học. Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân vật trung tâm giữ vai trò chỉ đạo, hoạt động tích cực, còn học sinh thì thụ động thực hiện những điều thầy dạy. - Thứ hai, phương pháp dạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làm việc của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, nhằm đạt tới những mục đích giáo dục.99] Định nghĩa này dung hòa hơn, coi phương pháp dạy học là một sự kết hợp, ngang hàng của hai hoạt động dạy và học.
Nhiệm vụ truyền thụ tri thức của thầy cũng quan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của trò. - Thứ ba, phương pháp dạy học là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực nhận thức.99] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa này thể hiện quan niệm mới về sự lĩnh hội tri thức. Theo quan niệm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức. Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học là vai trò chủ động 1.
Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực Dạy học tích cực là hệ thống phương pháp dạy học nhằm cụ thể hóa hoạt động bên trong của học sinh. Người học không bị động tiếp thu những kiến thức có sẵn do thầy truyền đạt mà nỗ lực hợp tác với bạn bè để tự tìm hiểu, khám phá những kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của thầy giáo. Giáo viên là người định hướng, tổ chức các hoạt động của lớp học. Phương pháp dạy học tích cực thực chất là cách hướng tới việc học tập tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh.
Nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên trong PPDH tích cực là trở thành người thiết kế, tạo điều kiện phát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập. Học sinh được thách thức và tham gia một cách tích cực trong suốt quá trình học tập. - Thiết - Động cơ, hứng kế. thú, lạc quan.
Tổ Chủ chức - Giao - Tích cực, tự nhiệm giác, sáng tạo thể vụ. quá TRÒ THẦY trình nhận - Điều - Tự đánh giá, khiển. tự điều khiển. thức nhận thức - Đánh - Đánh giá giá CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ DẠY HỌC Sơ đồ 1.
Dạy học tích cực 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan niệm về dạy học tích hợp Trên thế giới và tại Việt Nam, dạy học tích hợp đã trở thành một xu hướng giáo dục hiện đại. Đặc điểm nổi bật của xu hướng giáo dục hiện nay là mọi hoạt động giáo dục đều hướng vào người học dựa trên nền kiến thức được tích hợp từ nhiều môn khoa học liên ngành, những giá trị nhân văn được đặc biệt quan tâm. Về phương diện lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất.
Trong dạy học tích hợp, các nhà giáo dục học phân chia ra thành hai loại tích hợp: tích hợp dọc và tích hợp ngang. Tích hợp dọc là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau. [14] Tích hợp ngang là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau.[14] Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD (giáo dục) dân số, GD môi trường, GD di sản… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống. Bên cạnh đó, còn có một số phương thức và mức độ tích hợp khác như: + Tích hợp liên môn là mức độ tích hợp theo chủ đề, ở đó chứa đựng các nội dung gần nhau của các môn học.
+ Tích hợp xuyên môn là tích hợp bằng cách thiết kế các môn học mà ở đó có sư tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học. + Tích hợp toàn phần: được thực hiện khi hầu hết các kiến thức của môn học hoặc nội dung của một bài học cụ thể, cũng chính là các kiến thức về chủ đề tích hợp. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Tích hợp bộ phận: được thực hiện khi có một phần kiến thức của môn học hoặc bài học có nội dung về chủ đề tích hợp. + Tích hợp liên hệ là hình thức tích hợp đơn giản nhất, khi chỉ có một số nội dung của môn học có liên quan tới nội dung cần tích hợp.
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với học sinh, so với việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những quan điểm GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Khái niệm di sản Di sản là giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại. Như vậy, hiểu theo nghĩa này, di sản chính là một di sản văn hóa của mỗi quốc gia.
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại .254] Trong cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. Di sản lúc đó được hiểu như "Ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia". Khái niệm văn hóa Định nghĩa của GS.Trần Ngọc Thêm: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội".41] Trong trang cuối của bản thảo tập “Nhật kí trong tù” (1943), Bác Hồ đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà loài người đã sản sinh ra. Nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.431] Định nghĩa văn hóa được cộng đồng thế giới sử dụng nhiều và được nhiều người trích dẫn hơn cả là định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và cảm xúc quy định tính cách của một xã hội hay một nhóm xã hội nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. [17] Như vậy, có thể khẳng định rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền tảng của thế giới tự nhiên. Khái niệm di sản văn hóa Trên bình diện quốc tế năm 1989, UNESCO đã định nghĩa DSVH như sau: “Di sản văn hóa là tập hợp những biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại cho mỗi nền văn hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại.
Là một phần của việc khẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, là một dạng di sản nhân loại, di sản văn hóa mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên là nơi cất giữ kinh nghiệm con người. Việc bảo tồn và giới thiệu DSVH này là cốt lõi của mọi chính sách văn hóa.14] Luật DSVH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: "Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Phân loại di sản văn hóa Di sản văn hóa được phân chia ra làm hai loại: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. * Di sản văn hóa vật thể 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.