Quản lý giáo dục đạo đức THCS dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng

Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường PTDTNT THCS Cao Bằng theo hướng đổi mới. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

134
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Mở đầu

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PTDTNT THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước

1.1.3. Một số nhận xét

1.2. Các khái niệm cơ bản

1.2.1. Giáo dục và giáo dục đạo đức

1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý giáo dục đạo đức

1.3. Vị trí, mục tiêu, tính chất, nhiệm vụ của trường PTDTNT

1.3.1. Vị trí của trường PTDTNT trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.2. Mục tiêu của trường PTDTNT

1.3.3. Tính chất của trường PTDTNT

1.3.4. Nhiệm vụ của trường PTDTNT

1.4. Hoạt động GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

1.4.1. Đặc điểm tâm lý HS trường PTDTNT THCS

1.4.2. Mục tiêu GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS

1.4.3. Nội dung GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS

1.4.4. Phương pháp GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS

1.4.5. Hình thức GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS

1.4.6. Đánh giá kết quả GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS theo chương trình GDPT mới

1.5. Nội dung quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS

1.5.1. Mục tiêu quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS

1.5.2. Xây dựng kế hoạch GDĐĐ học sinh

1.5.3. Tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS

1.5.4. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS

1.5.5. Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS

1.5.6. Quản lý hoạt động phối hợp của các lực lượng tham gia công tác GDĐĐ cho HS

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDĐĐ cho HS trường PTDTNT THCS

1.6.1. Đặc điểm lứa tuổi học sinh THCS

1.6.2. Mối quan hệ giữa giáo dục và tự giáo dục

1.6.3. Vai trò của tập thể HS

1.6.4. Nhận thức của các lực lượng tham gia hoạt động GDĐĐ cho HS

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PTDTNT THCS TỈNH CAO BẰNG

2.1. Khái quát về khách thể khảo sát và tổ chức khảo sát

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội, giáo dục tỉnh Cao Bằng

2.1.2. Sơ lược về hệ thống trường PTDTNT THCS trên địa bàn tỉnh

2.1.3. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.2. Thực trạng hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường PTDTNT THCS tỉnh Cao Bằng

2.2.1. Nhận thức của CBQL, GV, CMHS, HS về sự cần thiết của hoạt động GDĐĐ cho HS

2.2.2. Nhận thức của CBQL, GV, CMHS, HS về tầm quan trọng của môn học Giáo dục công dân (đạo đức) trong chương trình GDPT hiện hành

2.2.3. Đánh giá của CBQL, GV, CMHS, HS việc thực hiện mục tiêu GDĐĐ cho HS theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

2.2.4. Mức độ thực hiện các nội dung GDĐĐ cho HS theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

2.2.5. Mức độ thực hiện các phương pháp GDĐĐ cho HS

2.2.6. Mức độ thực hiện và hiệu quả của các hình thức GDĐĐ cho HS

2.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDĐĐ cho HS

2.2.8. Mức độ thực hiện các hình thức phối hợp các lực lượng nhà trường, gia đình, xã hội trong hoạt động GDĐĐ cho HS

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS tại các trường PTDTNT THCS trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

2.3.1. Công tác lập kế hoạch GDĐĐ cho HS tại các trường PTDTNT THCS trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

2.3.2. Công tác tổ chức thực hiện hoạt động GDĐĐ cho HS

2.3.3. Công tác chỉ đạo thực hiện hoạt độngGDĐĐ cho HS

2.3.4. Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ cho HS tại các trường PTDTNT THCS trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

2.3.5. Đánh giá chung

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PTDTNT THCS TỈNH CAO BẰNG THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GD PHỔ THÔNG

3.1. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS

3.1.1. Đảm bảo thực hiện nội dung và chức năng của hoạt động quản lí một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn

3.1.2. Đảm bảo tăng cường các trải nghiệm giáo dục giá trị trong xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐ cho HS

3.1.3. Đảm bảo phối hợp thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục

3.1.4. Đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của định hướng đổi mới chương trình giáo dục phô thông

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường PTDTNT THCS tỉnh Cao Bằng theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

3.2.1. Tổ chức truyền thông nội bộ liên tục để nâng cao nhận thức của CBQL, GV các trường PTDTNT THCS về hoạt động GDĐĐ cho HS theo định hướng đổi mới chương trình GD phổ thông

3.2.2. Xây dựng và triển khai kế hoạch, nội dung GDĐĐ cho HS phù hợp với văn hóa truyền thống và điều kiện thực tiễn của địa phương

3.2.3. Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức GDĐĐ cho HS

3.2.4. Phát huy vai trò chủ động của Nhà trường trong việc phối hợp chặt chẽ, thống nhất với gia đình và xã hội để GD đạo đức cho HS

3.2.5. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ cho HS

3.2.6. Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS

3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.3.1. Đối tượng thăm dò ý kiến

3.3.2. Cách thức tiến hành

3.3.3. Kết quả khảo nghiệm

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh giáo dục đạo đức THCS dân tộc nội trú Cao Bằng

Giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú (PTDTNT) Trung học cơ sở (THCS) ở Cao Bằng là một nhiệm vụ chiến lược, mang tính đặc thù cao. Đây không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức mà còn là sứ mệnh giáo dục nhân cách học sinh, tạo nguồn cán bộ chất lượng cho vùng sâu, vùng xa. Theo Nghị quyết 29-NQ/TW, mục tiêu của giáo dục phổ thông là "phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản". Tại trường PTDTNT Cao Bằng, mục tiêu này được cụ thể hóa để phù hợp với bối cảnh học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, sống và học tập xa gia đình. Môi trường nội trú tạo điều kiện thuận lợi để rèn luyện tính tự lập, kỷ luật và tinh thần tập thể. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức trong việc duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của mỗi học sinh. Công tác giáo dục đạo đức tại đây không chỉ dừng lại ở môn Giáo dục công dân mà được lồng ghép vào mọi hoạt động, từ giờ lên lớp, sinh hoạt tập thể đến các hoạt động ngoại khóa ở trường nội trú. Việc xây dựng một mô hình giáo dục đặc thù vừa đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, vừa tôn trọng và phát huy giá trị văn hóa địa phương là yếu tố then chốt. Quá trình này đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục một cách khoa học, bài bản, hướng tới việc xây dựng môi trường học đường hạnh phúc và an toàn cho tất cả học sinh.

1.1. Vai trò của mô hình giáo dục đặc thù tại các trường PTDTNT

Trường PTDTNT giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, được thành lập nhằm tạo nguồn đào tạo cán bộ cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Mô hình giáo dục đặc thù của các trường này không chỉ thực hiện chương trình giáo dục phổ thông chung mà còn có nhiệm vụ nuôi dưỡng, giáo dục học sinh một cách toàn diện trong môi trường nội trú. Theo luận văn của tác giả Lê Văn Thắng (2019), trường PTDTNT có vai trò then chốt trong "sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số". Môi trường này giúp các em học sinh, vốn xuất thân từ những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao. Đồng thời, việc sống tập thể giúp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số, tăng cường tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hình thành nên những phẩm chất cần thiết của một công dân có trách nhiệm.

1.2. Mục tiêu giáo dục nhân cách học sinh theo chương trình mới

Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra mục tiêu cốt lõi là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho người học. Đối với cấp THCS, việc giáo dục nhân cách học sinh tập trung vào 5 phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Tại các trường PTDTNT Cao Bằng, những mục tiêu này được điều chỉnh để gắn liền với thực tiễn. Cụ thể, giáo dục lòng yêu nước gắn với tự hào về truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc của quê hương Cao Bằng. Lòng nhân ái được thể hiện qua sự đoàn kết, giúp đỡ bạn bè trong cuộc sống nội trú. Sự chăm chỉ không chỉ trong học tập mà còn trong lao động tự phục vụ. Trách nhiệm được nhấn mạnh trong việc bảo vệ tài sản chung, giữ gìn vệ sinh môi trường và tuân thủ nội quy của nhà trường. Mục tiêu cuối cùng là đào tạo ra những thế hệ học sinh vừa có kiến thức, vừa có đạo đức trong sáng, sẵn sàng cống hiến cho sự phát triển của địa phương.

II. Thực trạng thách thức giáo dục đạo đức học sinh Cao Bằng

Công tác giáo dục đạo đức tại các trường PTDTNT THCS tỉnh Cao Bằng đang đối mặt với nhiều thách thức không nhỏ. Thực trạng giáo dục đạo đức cho thấy một bộ phận học sinh có biểu hiện suy giảm về nhận thức và hành vi. Nguyên nhân xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Học sinh tại đây đến từ nhiều dân tộc, vùng miền khác nhau, mang theo những phong tục, tập quán riêng, đôi khi có cả những hủ tục lạc hậu đã ăn sâu vào tiềm thức. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi vị thành niên với những biến động phức tạp, cộng với sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và mạng xã hội, khiến các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực. Luận văn của Lê Văn Thắng (2019) chỉ ra rằng: "tỷ lệ HS vi phạm đạo đức trong các trường PTDTNT THCS có chiều hướng gia tăng và tính chất có phần nghiêm trọng hơn". Bên cạnh đó, các phương pháp giáo dục đạo đức đổi mới chưa được áp dụng rộng rãi và đồng bộ. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn lỏng lẻo do khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế của nhiều phụ huynh. Đây là những rào cản lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục mang tính đột phá và phù hợp với bối cảnh đặc thù của tỉnh Cao Bằng.

2.1. Tác động từ bản sắc văn hóa dân tộc và tâm lý lứa tuổi

Học sinh các trường PTDTNT THCS Cao Bằng có đặc điểm tâm lý nổi bật là sự hồn nhiên, trong sáng nhưng cũng còn nhiều hạn chế trong nhận thức và kỹ năng sống. Các em chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bản sắc văn hóa dân tộc và các phong tục, tập quán của cộng đồng. Điều này vừa là thế mạnh, vừa là thách thức. Một số tập quán tốt đẹp cần được phát huy, nhưng cũng tồn tại những hủ tục, thói quen chưa phù hợp với nếp sống văn minh học đường. Lứa tuổi THCS là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, các em bắt đầu hình thành "cái tôi", có xu hướng muốn khẳng định bản thân nhưng lại dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Sự thay đổi môi trường sống từ gia đình sang tập thể nội trú cũng gây ra những xáo trộn tâm lý nhất định, có thể dẫn đến cảm giác mặc cảm, tự ti hoặc ngược lại là các hành vi nổi loạn, phá cách.

2.2. Hạn chế trong công tác quản lý và phương pháp giáo dục

Nghiên cứu thực trạng cho thấy công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức tại nhiều trường còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu. Việc lập kế hoạch còn chung chung, chưa cụ thể hóa các nội dung phù hợp với từng đối tượng học sinh. Các phương pháp giáo dục đạo đức đổi mới như dạy học dự án, trải nghiệm sáng tạo, xử lý tình huống thực tiễn chưa được triển khai mạnh mẽ. Hoạt động giáo dục chủ yếu vẫn thông qua các bài giảng lý thuyết trên lớp, thiếu đi tính tương tác và thực hành. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh đôi khi còn nể nang, chưa phản ánh đúng thực chất. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm rất quan trọng nhưng chưa được phát huy tối đa do áp lực công việc và thiếu các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tư vấn tâm lý, quản lý lớp học trong môi trường nội trú.

III. Top 5 phương pháp giáo dục đạo đức đổi mới hiệu quả nhất

Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức tại các trường PTDTNT THCS Cao Bằng, việc áp dụng các phương pháp giáo dục đạo đức đổi mới là yêu cầu cấp thiết. Các phương pháp này cần tập trung vào việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Thứ nhất, phương pháp giáo dục thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế, tổ chức các chuyến đi về nguồn, tham quan di tích lịch sử, làng nghề truyền thống để bồi đắp tình yêu quê hương và lòng tự hào dân tộc. Thứ hai, tích hợp và tăng cường giáo dục lối sống THCSkỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số vào các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Các kỹ năng như giao tiếp, giải quyết xung đột, quản lý cảm xúc là nền tảng để hình thành nhân cách tốt. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin một cách tích cực, hướng dẫn học sinh khai thác tài nguyên mạng để học tập, tìm hiểu các tấm gương người tốt việc tốt, thay vì sa đà vào các nội dung tiêu cực. Thứ tư, xây dựng các dự án học tập về các chủ đề đạo đức, xã hội, khuyến khích các em tự tìm tòi, nghiên cứu và trình bày quan điểm. Cuối cùng, tăng cường các hoạt động ngoại khóa ở trường nội trú với nội dung phong phú, đa dạng, từ thể thao, văn nghệ đến các câu lạc bộ sở thích, tạo sân chơi lành mạnh để các em phát triển toàn diện.

3.1. Tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số

Việc trang bị kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những giải pháp trọng tâm. Do sống xa gia đình từ sớm, các em cần được trang bị các kỹ năng tự phục vụ, quản lý thời gian, quản lý tài chính cá nhân. Bên cạnh đó, các kỹ năng xã hội như làm việc nhóm, lắng nghe tích cực, ứng xử văn minh trong môi trường tập thể là vô cùng cần thiết. Nhà trường cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, các khóa học ngắn hạn về kỹ năng sống, mời chuyên gia tâm lý về nói chuyện. Đặc biệt, cần chú trọng đến giáo dục giới tính lứa tuổi vị thành niên, giúp các em có hiểu biết đúng đắn để bảo vệ bản thân, tránh những sai lầm đáng tiếc, góp phần phòng chống bạo lực học đường và các tệ nạn xã hội.

3.2. Đổi mới hoạt động ngoại khóa ở trường nội trú để rèn luyện

Môi trường nội trú cung cấp 24/7 thời gian để tổ chức các hoạt động giáo dục. Việc đổi mới hoạt động ngoại khóa ở trường nội trú có thể tạo ra sự đột phá trong công tác giáo dục đạo đức. Thay vì các hoạt động mang tính hình thức, cần xây dựng các chương trình có chiều sâu, gắn với bản sắc địa phương. Ví dụ, tổ chức các lễ hội văn hóa các dân tộc, các cuộc thi tìm hiểu về trang phục, ẩm thực, làn điệu dân ca của Cao Bằng. Tổ chức các hoạt động lao động công ích, các chiến dịch "Trường học xanh - sạch - đẹp" để giáo dục ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Các hoạt động này không chỉ giúp học sinh giải tỏa căng thẳng sau giờ học mà còn là cơ hội để các em thực hành những bài học đạo đức, rèn luyện phẩm chất và xây dựng môi trường học đường hạnh phúc.

IV. Cách phối hợp nhà trường gia đình giáo dục đạo đức THCS

Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là yếu tố quyết định đến hiệu quả giáo dục đạo đức, đặc biệt trong mô hình trường nội trú. Mặc dù học sinh ở trường là chủ yếu, nhưng gia đình vẫn là nền tảng, có sức ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách. Để sự phối hợp này thực sự hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ. Trước hết, nhà trường phải chủ động xây dựng một cơ chế liên lạc thông suốt, thường xuyên với phụ huynh thông qua nhiều kênh: điện thoại, Zalo, sổ liên lạc điện tử, và các buổi họp phụ huynh định kỳ. Nội dung trao đổi không chỉ là kết quả học tập mà phải tập trung vào những biểu hiện tâm lý, hành vi, đạo đức của học sinh. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm được xem là cầu nối quan trọng nhất trong mối quan hệ này. Giáo viên chủ nhiệm cần nắm vững hoàn cảnh của từng học sinh để có sự thông cảm, chia sẻ và tư vấn phù hợp cho cả học sinh và gia đình. Nhà trường cũng cần tổ chức các buổi nói chuyện, tập huấn cho phụ huynh về phương pháp giáo dục con cái ở lứa tuổi vị thành niên, giúp cha mẹ hiểu và đồng hành cùng nhà trường trong việc giáo dục lối sống THCS cho các em.

4.1. Nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm làm cầu nối chính

Trong môi trường nội trú, giáo viên chủ nhiệm không chỉ là người thầy mà còn là người cha, người mẹ thứ hai của học sinh. Việc nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm là nhiệm vụ ưu tiên. Cần lựa chọn những giáo viên tâm huyết, có kinh nghiệm và am hiểu tâm lý lứa tuổi, văn hóa địa phương. Nhà trường cần tạo điều kiện để giáo viên chủ nhiệm có thêm thời gian gần gũi, trò chuyện, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của học sinh. Đồng thời, cần có chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với những giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm. Các buổi sinh hoạt nghiệp vụ dành riêng cho khối chủ nhiệm cần được tổ chức thường xuyên để trao đổi kinh nghiệm, tháo gỡ khó khăn trong việc quản lý và giáo dục học sinh cá biệt, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục một cách thống nhất.

4.2. Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh

Để sự phối hợp không dừng lại ở mức độ hình thức, cần xây dựng một quy chế phối hợp rõ ràng, có sự cam kết từ hai phía. Quy chế này cần quy định cụ thể về trách nhiệm của nhà trường và gia đình trong việc quản lý, giáo dục học sinh. Ví dụ, gia đình có trách nhiệm thông báo cho nhà trường những thay đổi tâm lý bất thường của con em khi về nghỉ phép; nhà trường có trách nhiệm thông báo kịp thời các trường hợp vi phạm kỷ luật. Ban đại diện cha mẹ học sinh cần được phát huy vai trò tích cực hơn, không chỉ trong việc đóng góp vật chất mà còn tham gia vào việc xây dựng kế hoạch giáo dục, giám sát các hoạt động của nhà trường. Sự đồng bộ và thống nhất trong phối hợp giữa nhà trường và gia đình sẽ tạo ra một môi trường giáo dục lành mạnh, giúp học sinh phát triển toàn diện.

V. Mô hình giáo dục đạo đức thành công ở trường PTDTNT Cao Bằng

Áp dụng các giải pháp quản lý và phương pháp giáo dục đổi mới đã mang lại những kết quả tích cực cho công tác giáo dục đạo đức THCS dân tộc nội trú Cao Bằng. Một số trường đã xây dựng thành công mô hình giáo dục đặc thù, kết hợp hài hòa giữa chương trình quốc gia và giá trị văn hóa địa phương. Kết quả khảo nghiệm các biện pháp trong luận văn của Lê Văn Thắng (2019) cho thấy tính cần thiết và khả thi cao, được đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đồng tình ủng hộ. Cụ thể, nhận thức của giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của giáo dục đạo đức đã được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm tốt, khá tăng lên, số học sinh vi phạm kỷ luật giảm đáng kể. Các hoạt động ngoại khóa ở trường nội trú được tổ chức bài bản hơn, thu hút đông đảo học sinh tham gia, góp phần xây dựng môi trường học đường hạnh phúc. Việc tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình đã tạo ra sự đồng thuận, chung tay trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Những kết quả ban đầu này là minh chứng cho hướng đi đúng đắn, là nền tảng để tiếp tục nhân rộng các mô hình hiệu quả trên toàn tỉnh.

5.1. Kết quả từ việc áp dụng giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục

Thực tiễn cho thấy, nơi nào triển khai quyết liệt các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, nơi đó có sự chuyển biến rõ rệt. Học sinh trở nên tự tin hơn trong giao tiếp, chủ động hơn trong học tập và các hoạt động tập thể. Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái giữa học sinh các dân tộc được củng cố. Các em biết trân trọng bản sắc văn hóa dân tộc của mình và tôn trọng sự khác biệt văn hóa của các bạn. Chất lượng giáo dục toàn diện của các nhà trường được cải thiện, thể hiện qua cả kết quả học tập và mức độ rèn luyện đạo đức. Đây là thành quả của một quá trình nỗ lực, đổi mới không ngừng của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tại các trường PTDTNT Cao Bằng.

5.2. Xây dựng môi trường học đường hạnh phúc phòng chống bạo lực

Một trong những thành công quan trọng là việc từng bước xây dựng môi trường học đường hạnh phúc, an toàn và thân thiện. Khi học sinh cảm thấy được yêu thương, tôn trọng và an toàn, các em sẽ có động lực để rèn luyện và phát triển nhân cách. Việc triển khai các hoạt động tư vấn tâm lý học đường, các hộp thư "Điều em muốn nói" đã giúp nhà trường nắm bắt và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của học sinh. Công tác phòng chống bạo lực học đường được chú trọng thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật và xây dựng bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà trường. Một môi trường giáo dục tích cực chính là mảnh đất màu mỡ nhất để ươm mầm những giá trị đạo đức tốt đẹp cho thế hệ tương lai.

22/09/2025
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh cao bằng theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PTDTNT THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Đạo đức là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả ở phương Đông lẫn phương Tây quan tâm và coi trọng. Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 - TCN), ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc cổ đại.

Tư tưởng giáo dục Khổng Tử rất chú trọng vào dạy người - thuyết đức trị. Theo Ông, mục tiêu giáo dục là đào tạo, bồi dưỡng người “nhân”, “quân tử” để làm quan, “khôi phục lễ nghĩa” trong xã hội. Nội dung giáo dục luân lý đạo đức của Khổng Tử được thể hiện rõ trong “Luận ngữ”. “Luận ngữ” chủ trương rèn luyện tính thiện cho dân bằng phương pháp “cất nhắc người tốt, dạy dỗ người không tốt thì dân khuyên nhau làm điều thiện” [29] Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 – 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết qui định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức [32].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,. Học thuyết Mác - Lênin khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nó bắt nguồn từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội; nó phản ánh và chịu sự tác động, chi phối của tồn tại xã hội. Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Nhà trường trong mọi chế độ xã hội, mọi thời đại đều GDĐĐ cho HS [22].

Từ đó, có thể thấy rằng cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều rất quan tâm, chú trọng đề cao vấn đề đạo đức và GDĐĐ qua đó hình thành và phát triển nhân cách của người học, của con người. Những nghiên cứu ở trong nước Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đưa ra các mô hình quản lý giáo dục đạo đức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước. Phạm Minh Hạc và các cộng sự đã có công trình nghiên cứu khoa học về: “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã phần nào cụ thể hóa được mục tiêu giáo dục trong các nhà trường, trong đó có hệ thống các trường trung học cơ sở; đã cụ thể hóa được các hoạch định chiến lược giáo dục toàn diện cho HS trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo con người, phát triển toàn diện để phục vụ cho công cuộc xây dựng CNH và HĐH đất nước.

Từ thực trạng đạo đức của sinh viên, HS, công trình nghiên cứu này đã đưa ra một số giải pháp ở tầm vĩ mô về GD&ĐT với các yêu cầu đặt ra như: tiếp tục đổi mới hình thức, nội dung, hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn thức GDĐĐ trong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho mọi người,… Thành công ở công trình nghiên cứu này là đã đưa ra một hệ thống giải pháp quản lý xã hội về giáo dục. Trong đó có giải pháp “Tổ chức phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức và lối sống cho toàn dân trước hết là cán bộ đảng viên, cho thầy và trò các trường học” [23]. Luận án tiến sĩ “Giáo dục đạo đức cho HS trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của Đỗ Tuyết Bảo (2001) đã đề cập đến vai trò GDĐĐ với sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, tác động đổi mới của xã hội với GDĐĐ cho HS trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đưa ra các giải pháp như: Đổi mới về nhận thức GDĐĐ; Đổi mới phương pháp GDĐĐ; Đổi mới hình thành tổ chức hoạt động GDĐĐ và xây dựng môi trường đạo đức; lãnh đạo và quản lý công tác GDĐĐ trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS [2].

Đề tài mã số C 2006 -29 -05 “Một số giải pháp chỉ đạo của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS trường Trung học cơ sở thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy đã nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác GDĐĐ cho HS thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS Trung Hưng và một số trường THCS thuộc địa bàn thành phố Sơn Tây từ đó đề xuất một số giải pháp chỉ đạo thích hợp và khả thi về công tác GDĐĐ cho HS ở trường trung học cơ sở nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục của cấp trung học cơ sở và ngành GD&ĐT hiện nay [44]. Ngoài ra, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học hết sức quan tâm hiện tượng suy thoái về đạo đức ở một bộ phận thanh thiếu niên do tác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn động tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường nên đã có những công trình khoa học đáng quan tâm như: Đề tài mang mã số NN7: “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho HS, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài này đã mang lại nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị và tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu của thập kỷ 90 [14]. Đề tài: “Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”, chương trình nghiên cứu khoa học, công nghệ quốc gia KX.07 (1991 - 1995), do Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang nghiên cứu các đề tài về con người với tư cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển.

Trong phạm vi của chương trình nghiên cứu này đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ, phát triển nhân cách. Đáng lưu ý nhất là vấn đề giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng đã được các tác giả đề cập và lý giải trên cơ sở khoa học [47]. Đề tài: “Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường Tiểu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Hồng Nhung, năm 2011 [33]. Đề tài: “Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS trung học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre” của tác giả Lê Thị Ngọc Thảo, năm 2011 [41].

Đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Gia Lộc II, tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh, năm 2012 [1]. Đề tài: “Quản lý hoạt động GDĐĐ HS trung học phổ thông dân tộc thiểu số huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang” của tác giả Nguyễn Phú San, năm 2013 [39]. Đề tài: “Biện pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh" của tác giả Nguyễn Văn Bổ, năm 2013 [3]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Đề tài: “Quản lý hoạt động GDĐĐ HS trung học cơ sở Vân Nội, Đông Anh, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Hoàng Ngọc Thắng, năm 2015 [43].

Đề tài: “Quản lý hoạt động GDĐĐ HS trung học phổ thông C Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong bối cảnh hiện nay” của tác giả Trần Ngọc Nam (năm 2016) [31]. Qua nghiên cứu những quan điểm về GDĐĐ của nước ngoài và các luận án, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở Việt Nam, cho thấy những nét khái quát về đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của vấn đề quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS là rất cần thiết. Một số nhận xét Trên cơ sở khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ các tác giả đã hệ thống hóa lý luận về GDĐĐ, quản lý GDĐĐ, đưa ra hệ thống các biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS, sinh viên, đề xuất nhiều giải pháp, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ cho HS ở các địa phương cụ thể. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho HS ở các trường PTDTNT THCS ở địa phương.

Nhìn chung, trong những năm qua hoạt động GDĐĐ trong các nhà trường đã và đang được quan tâm rất nhiều. Những công trình trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS, phân tích vấn đề GDĐĐ dưới nhiều góc độ khác nhau, rất đa dạng, phong phú và có chiều sâu. Các hội thảo khoa học về GDĐĐ cho HS đã được tổ chức ở trung ương và các tỉnh thành. Các nghiên cứu trên đã chỉ ra thực trạng về đạo đức HS, thực trạng GDĐĐ và quản lý hoạt động này trong các loại hình nhà trường ở nhiều địa phương khác nhau và đã đề ra những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ đảm bảo tính khoa học, toàn diện, hiệu quả và khả thi ở các đơn vị, địa phương đó.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Để quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS hiện nay đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của các trường PTDTNT THCS, đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này sâu sắc và hệ thống hơn nữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ