Chương 1 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Đạo đức đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho công chức, viên chức 1. Đạo đức công vụ và giáo dục đạo đức công vụ 1. Khái niệm công vụ nhà nước Nhà nước là tổ chức công quyền nên phục vụ trong cơ quan và công sở nhà nước là thực hiện công vụ nhà nước.
Công vụ nhà nước là một phần hay một mặt hoạt động có tính tổ chức, quyền lực - pháp lý của Nhà nước, được phân biệt với các hoạt động khác trong xã hội như sản xuất vật chất, sáng tạo giá trị tinh thần và hoạt động phục vụ trong các tổ chức chính trị - xã hội bởi sự gắn bó chặt chẽ của công vụ nhà nước với quyền lực nhà nước. Hoạt động công vụ nhà nước trước hết là hoạt động quyền lực, tác động đến ý chí của con người, đưa đến cho họ những hành vi có ý thức hoặc đáp ứng những nhu cầu chung của mọi người trong xã hội. Mặt khác hoạt động công vụ do các cán bộ, công chức nhà nước đảm nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, không tách rời khỏi cơ cấu, tổ chức của cơ quan đó. Chức vụ là bộ phận cơ cấu cơ sở của cơ quan nhà nước, bao gồm hàng loạt vấn đề: xác định các chức vụ, các quy tắc và phương thức tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi chức, thuyên chuyển.
Như vậy, công vụ nhà nước được bắt đầu từ lúc xác lập các chức vụ nhà nước. Hoạt động công vụ nhà nước là một dạng lao động xã hội nhằm quản lý các hoạt động của xã hội theo quy chuẩn pháp lý. Vì vậy, hoạt động công vụ liên quan đến nhiều mặt hoạt động xã hội, và nó đòi hỏi nhiều lĩnh vực khoa học và nghề nghiệp, nhưng nghề nghiệp cơ bản nhất của cán bộ, công chức nhà nước là thực hiện chức năng 10 quản lý hành chính nhà nước và các chức năng lập pháp, xét xử, kiểm sát của nhà nước. Từ góc độ khoa học pháp lý, pháp luật về công vụ nhà nước là một chế định pháp luật hành chính, xác lập và điều chỉnh quan hệ của nhà nước với công chức, viên chức nhà nước mà nghề nghiệp của các công chức, viên chức là thực hiện chức năng khác theo sự ủy nhiệm của nhà nước và thay mặt nhà nước.
Công vụ nhà nước là công việc hay hoạt động nhà nước mang tính tổ chức quyền lực – pháp lý nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Từ những phân tích trên có thể hiểu: Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội. Khái niệm đạo đức công vụ Đạo đức công vụ của người công chức, viên chức gắn liền với đạo đức xã hội, những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị, nhưng đồng thời đạo đức công vụ là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Do đó, đạo đức công vụ gắn chặt với quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm những điều công chức, viên chức không được làm, cách ứng xử của công chức, viên chức khi thi hành công vụ do pháp luật quy định.
Vì vậy, đồng thời với những cố gắng để biến những quy định pháp luật đối với công chức, viên chức thành những chuẩn mực đạo đức công vụ, nêu cao tính tự giác, trách nhiệm phục vụ nhân dân của công chức, viên chức cần thể chế hoá những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức thành những quy phạm pháp luật. Ở nước ta hiện nay, các quy định về đạo đức công vụ của công chức, viên chức đã được thể hiện trong nhiều văn bản như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Luật Cán bộ, công chức trong Điều 15 quy định đạo đức của cán bộ, công chức: “Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công 11 vô tư trong hoạt động công vụ”[31, tr. Điều 18 quy định những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ, gồm: “1. Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.
Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật. Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi. Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức”[31, tr. Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức: “Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức”[30, tr.
Điều 37 của Luật này đã quy định những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm. Đồng thời, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức của một số tổ chức, Bộ, ngành, địa phương đã được ban hành như: Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch.; Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta được xây dựng trên nền tảng triết lý Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, cán bộ, công chức, viên chức là công bộc của dân; giá trị cao nhất của đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân, vì lợi ích nhân dân. Do vậy, phát huy đạo đức công vụ chính là đề cao trách nhiệm phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của người cán bộ, công chức, viên chức; từ đó cũng cố lòng tin của người dân vào nền công vụ. Từ những phân tích trên có thể hiểu: Đạo đức công vụ là hệ thống các chuẩn mực quy định nhận thức và hành động được xem là tốt hay xấu, là nên 12 hay không nên làm; cao thượng hay thấp hèn; chính nghĩa hay phi nghĩa… trong hoạt động công vụ của người công chức, viên chức nhằm xây dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên nghiệp và trong sạch, tận tụy, công tâm mang tính phục vụ cao.
Đạo đức công vụ được hiểu là đạo đức thực thi nhiệm vụ công của công chức, viên chức; là những giá trị và chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất định trong xã hội - công chức, viên chức, trong lĩnh vực hoạt động cụ thể là công vụ. Cấu trúc đạo đức công vụ Đạo đức bao gồm các yếu tố cấu thành là: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức. - Ý thức đạo đức: Con người không thể sống bên ngoài các mối quan hệ xã hội. Để tồn tại, con người phải dựa vào nhau trên cơ sở những lợi ích cá nhân phải phù hợp với những lợi ích của cộng đồng.
Những nguyên tắc bảo đảm cho sự phù hợp của những quyền lợi ấy khi đã trở thành tình cảm, quan điểm, quan niệm sống chính là ý thức đạo đức. - Hành vi đạo đức: Mọi hành vi được thực hiện do thôi thúc của một động cơ nào đó. Khi hành vi được thực hiện do thôi thúc của ý thức đạo đức thì nó được gọi là hành vi đạo đức. Hành vi đó thể hiện ý thức đạo đức và văn hoá đạo đức của cá nhân.
Hành vi đạo đức tác động trực tiếp đến con người và gắn liền với ý thức đạo đức. - Quan hệ đạo đức: Quan hệ đạo đức là những quan hệ đã được ý thức đạo đức điều chỉnh giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và xã hội. Những quan hệ này thường được hình thức hoá bằng những nghi thức xã hội, những phong tục, tập quán. vì thế một mặt nó thể hiện ý thức đạo đức, mặt khác nó đóng vai trò hình thành và củng cố ý thức đạo đức.
13 Đạo đức công vụ gồm các yếu tố cấu thành là: Ý thức đạo đức công vụ, hành vi đạo đức công vụ và quan hệ đạo đức của công chức, viên chức khi thực thi công vụ. Giáo dục đạo đức công vụ * Khái niệm giáo dục Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng, là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức, là sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục đích, yêu cầu định sẵn. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành nhân cách con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà giáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục và dạy học. Theo Từ điển tiếng Việt, giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.
Dưới góc độ triết học, có thể hiểu rằng, giáo dục là một quá trình hai mặt. Một mặt, đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục (sự tác động của tri thức, văn hóa nhân loại thông qua nhà sư phạm đến đời sống của học sinh, sinh viên, học viên); mặt khác, thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội.
Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội.