Chương 1 ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN 1. Đạo đức và chức năng của đạo đức 1. Đạo đức Theo nghiên cứu của một số các tác giả như: Trần Hậu Kiêm (1997) “Đạo đức học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội; GS.TS Nguyễn Ngọc Long, PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên), “Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004; Vladimir Soloviev, Karol Vojtyla, Albert Schweitzer (2004) “Triết học đạo đức”, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội; PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân (2007) “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty”, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, thì từ “đạo đức” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ “Ethos” - đạo lý và tiếng Latinh là “Moralital” - luân lý, có nghĩa là “phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử, đặc tính, loại hình tư tưởng”.Từ này xuất hiện lần đầu tiên trong tiếng Pháp vào năm 1265. Cicéron sau đó đã dịch từ “đạo đức” (éthique) qua từ “luân lý” (morale) trong tiếng La tinh, chính từ luân lý cũng bắt nguồn từ từ mores có nghĩa là “phong tục tập quán”.
Sau đó tiếng Pháp đã dùng từ này lần đầu tiên vào năm 1530. Hai từ “luân lý” và “đạo đức” ban đầu có chung một định nghĩa “cách hành xử được ấn định bởi phong tục, tập quán của một nước”. Muốn phân biệt hai từ trên cần tìm hiểu lịch sử của các ý tưởng. Ngay từ thời thượng cổ, người Hy Lạp đã coi đạo đức như suy nghĩ về những nguyên tắc chỉ đạo cuộc sống con người trong khi đó thì người La Mã gán cho từ luân lý một hàm ý về luật, cả hai đều chứa đựng tập quán của hai dân tộc.
Lịch sử đạo đức cho đến nay có rất nhiều những quan điểm khác nhau: Trước C.Mác, các nhà triết học phương Tây, do duy tâm trong quan niệm về lịch sử, nên mặc dù có những tư tưởng hợp lý nhất định về đạo đức, nhưng nhìn chung, họ không giải quyết được một cách thật sự khoa học những vấn đề căn bản của đạo đức học. Vấn đề căn bản nhất của đạo đức học là vấn đề bản chất của đạo đức. Các tôn giáo cũng như các nhà triết học trước Mác thường quy đạo đức về một cội nguồn, một bản nguyên phi lịch sử. Bản nguyên đó hoặc là Thượng đế (tôn giáo), 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc là một nguyên lý tiên thiên (I.Cantơ), một ý niệm tuyệt đối tự phát triển (G.Hêghen), một bản tính người trừu tượng (L.
tiêu biểu với một số quan điểm về đạo đức: Theo Socrates (khoảng năm 469-399 tr.CN), một mặt đức hạnh là tri thức, bất cứ ai biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó. Hành vi sai trái chỉ xuất phát từ sự vô minh. Một người có hành động không đúng bởi vì, và chỉ vì, anh ta không biết cái gì là đúng đắn. Không có một người tỉnh táo và lành mạnh nào lại chủ tâm làm tổn hại bản thân mình.
Nếu anh ta thực sự làm một điều như vậy, đơn giản chỉ vì phạm phải sai lầm nào đó trong quá trình hành động, hoàn toàn không phải do cố ý. Không ai chủ định chọn lựa điều sai trái, bởi lẽ hành vi tội lỗi luôn mang đến tai hoạ cho bản thân họ và người khác; mặt khác đức hạnh không chỉ là tri thức, bản thân nó cũng đồng nghĩa với hạnh phúc. Bởi lẽ, hành vi đạo đức cũng chính là hành vi mang đến những điều tốt đẹp cho người thực hiện nó. Hạnh phúc kết thành quả từ đó.
Theo Aristote (384-322 tr.CN), con người được sinh ra, không chỉ sống để tồn tại, mà để sống một cuộc đời tốt đẹp - tuân thủ những nguyên tắc do lý trí của chính mình tạo ra, tuân theo bản chất tối thượng của mình. Hành vi cá nhân cần được kiểm soát bởi các nguyên tắc đạo đức, sự tiết độ và né tránh mọi hình thức thái quá hay bất cập. Điều này đòi hỏi anh ta phải xác định hành vi đúng đắn cho từng tình huống cụ thể. Đó không phải là một công việc dễ dàng, bởi lẽ mực thước và đức độ có nghĩa là làm đúng việc, liên hệ đúng người, đúng nơi, đúng lúc, đúng mức, đúng cách và phục vụ cho mục đích đúng đắn, đối tượng của đạo đức là “lĩnh vực hoạt động của con người, với tư cách là một hành vi xuất phát từ một quyết định”.
Theo bản năng, con người đi tìm “cái lợi ích tối cao” của riêng mình và điều đó thể hiện sự thành đạt của anh ta. Đó là hạnh phúc, (thuyết duy hạnh phúc), mục đích tối thượng của hoạt động của con người, nó không chỉ đơn thuần là khoái lạc, danh dự hay giàu sang, mà cũng không phải là cái gì tuyệt đối bởi vì của cải của con người là ở sự hoà hợp hoạt động của tâm hồn với đạo đức. Trong số các đức tính do Aristote đề nghị, sự thận trọng có tính chất quyết định để đảm bảo cho hành động có đạo đức: .không thể làm người lương thiện theo đúng nghĩa, nếu không có đức 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính thận trọng, và cũng không thể là người thận trọng nếu không có đạo đức luân lý. Đức tính này đảm bảo việc đánh giá đúng hành động của chúng ta và giúp chúng ta thoát khỏi những dục vọng.
Thái độ có đạo đức không xuất phát từ việc đánh giá, nó được hình thành trong thực tế: luyện tập, thói quen, học hỏi. Kant (1724 - 1804), cho rằng thế giới vốn được hình thành trên cơ sở các quy luật đạo đức. Vì thế, nếu theo đuổi một cuộc sống trái đạo đức, cá nhân sẽ phát hiện ra rằng cuối cùng các quy luật ấy cuốn phăng mọi nỗ lực đi ngược lại với dòng chảy của cuộc đời. Một xã hội, tổ chức hay doanh nghiệp nào đó được vận hành trên nền tảng phi đạo đức chẳng bao giờ có được sự thành công lâu bền.
Một thương gia chỉ quan tâm đến mục đích tạo ra lợi nhuận, bất chấp mọi phương tiện và thủ đoạn, sẽ nhận ra rằng lừa đảo và gian trá chỉ mang đến sự bất tín nhiệm và tai hoạ về mặt luật pháp. Giới doanh nhân và các nhà đầu từ thời hiện đại đánh giá tiếng tăm và uy tín như một thứ tài sản thiết yếu; họ luôn đón chào và mong đợi khách hàng tìm đến với sản phẩm của mình trên tinh thần thiện ý. Ở phương Đông, đạo đức không phụ thuộc vào tôn giáo mà thường xuất phát từ quan hệ giữa người với người và thường được giáo dục qua lăng kính của Nho giáo, đó là quan điểm đức trị độc đáo của phương Đông trong đó Khổng Tử là một đại biểu tiêu biểu cho “Thuyết đức trị”. “Thuyết đức trị” có vai trò to lớn trong việc bảo vệ tôn ti, trật tự đẳng cấp xã hội phong kiến phương Đông, giữ cho đất nước thái bình, thịnh trị theo quan điểm thống trị của xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Ý nghĩa chính của Thuyết Đức trị là: Nếu mọi người trong cộng đồng đều tốt lành, lương thiện cả thì xã hội tất yếu có trật tự, không cần phải có luật pháp. Như vậy tất cả mọi người trong xã hội đều quy vào việc tu thân, giáo hoá con người. Với việc phát hiện chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác (1818-1883) không chỉ tạo ra bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về sự phát triển xã hội nói chung mà còn đặt cơ sở khoa học cho tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội, trong đó có đạo đức học. Xuất phát từ vai trò của lao động sản xuất đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển con người, C.Mác đi đến quan niệm về tính quy định của phương thức sản xuất đối với toàn bộ hoạt động của con người, xã hội loài người.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngay từ trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, ý thức đạo đức của những người mông muội trong các khu rừng và các hang động đã đặt ra yêu cầu là con người phải thiết lập được mối quan hệ với nhau, phải hợp tác với nhau trong công việc săn bắt, hái lượm… hàng ngày. Từ đó đã làm nảy sinh khát vọng tự nguyện, tự giác, bình đẳng, công bằng trong xã hội và đây chính là những biểu hiện đầu tiên của giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức trong hình thức phát triển của nó. Trong Lời tựa viết cho Góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị, C.Mác đã viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại, sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [34, tr.
Mỗi hệ thống đạo đức ấy phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp xã hội tương ứng. Từ đó, Ăngghen (1820-1895) khẳng định: “Con người, dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [34, tr. Trong Chống Đuyrinh, cùng với việc phê phán quan niệm của Đuyrinh về những chân lý đạo đức vĩnh cửu, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng, về thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan niệm đạo đức chẳng qua chỉ là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế.Ăngghen viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về Thiện -Ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [34, tr. “Người da đỏ châu Mỹ xem việc lột da đầu người thật nhiều là công trạng, anh ta quan niệm việc làm này là lương thiện và anh hùng không chỉ hôm nay, mà mãi mãi, không chỉ cho một mình anh ta, mà còn cho mọi con người tử tế.
Người Gottentot nổi tiếng tuyên bố rằng thiện - đó là khi anh ta đánh cắp được thật nhiều bò của người khác, còn ác - khi người khác đánh cắp bò của anh ta, thì dĩ nhiên anh ta không xem cái nguyên tắc đạo đức ấy là của riêng mình, mà cho rằng đối với mọi người đánh cắp được thật nhiều của cải của người khác là thiện, còn để mất của mình là ác” [47, tr. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ăngghen đặc biệt chú ý đến tính giai cấp của đạo đức. Ông cho rằng, trong xã hội có phân chia giai cấp, mỗi hệ thống đạo đức đều biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định.