Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái niệm đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm đạo đức Trong triết học phương Tây, khái niệm đạo đức bắt nguồn từ tiếng latinh là “mos”, có nghĩa là lễ thói. “Moralis” có nghĩa là thói quen.
Đạo đức theo tiếng gốc của Hi Lạp cổ là “ethicos” cũng có nghĩa là thói quen, tập quán… Nói đến đạo đức tức là nói đến những thói quen, tập quán, sinh hoạt và ứng xử của con người trong cộng đồng, xã hội. Thời kỳ này, nội dung đạo đức học nổi tiếng bậc nhất ba vấn đề: Thứ nhất, những phẩm hạnh như công bằng, dũng cảm, chân thực, trung thành,… là gì? Thứ hai, những quy luật đạo đức có tính bắt buộc hay không, hay chúng chỉ là có tính chất tương đối. Thứ ba, mục đích của cuộc sống và hạnh phúc con người. Đến thế kỷ XVIII, tư tưởng đạo đức có bước tiến lớn nhờ tư tưởng của các nhà duy vật Pháp, họ đã phát triển đạo đức duy vật và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống lại đạo đức thần học tôn giáo.
Họ đã kết luận: Con người không phải sinh ra là đã có đạo đức mà đạo đức nảy sinh dưới sự tác động của môi trường xã hội, trước hết là chính trị và pháp luật. Do vậy, con người cần thay đổi điều kiện xã hội nếu muốn đạt đến đạo đức cao cả. Họ đã tìm thấy và nhận định bản chất đạo đức của con người thể hiện ở mối quan hệ làm sao cho thỏa mãn lợi ích riêng và lợi ích chung. Theo các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại cho rằng: Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội; đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính, nhìn chung đức là biểu hiện của đạo.
Do đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo. Tư tưởng triết học của Nho giáo về đạo đức cá nhân chính là ngũ thường “nhân – nghĩa – lễ - trí – tín” được coi là nòng cốt của nguyên tắc đạo đức, trong đó lấy nhân làm gốc. Khổng Tử cho rằng “Người quân tử là người Nhân. Nhân là người toàn đức.
Nhân là thương người kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (có nghĩa là: những gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Cho nên, “Nhân” ở đây là đức tính toàn diện, là cái gốc đạo đức của con người, nên “Nhân” chính là đạo làm người. Đức và tài phải đi đôi với nhau, nhưng Đức phải là gốc. Do đó, Khổng 7 Tử đã đề xuất đường lối “Đức trị” – đường lối trị nước bằng đạo đức mang đậm dấu ấn của ông.
Kế thừa một cách khoa học và có chọn lọc những tư tưởng trước đây về đạo đức, lần đầu tiên trong lịch sử, C.Ăngghen đã xây dựng học thuyết đạo đức mang tính khoa học và cách mạng. Ăngghen đưa ra quan niệm đạo đức của mình: “Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan hệ người – người, cá nhân – xã hội càng có ý thức, càng tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hành động của con người càng có đạo đức. Đạo đức đã là một sản phẩm của xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [38, tr.
Ngoài ra các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin còn dự báo về sự xuất hiện của một nền đạo đức mới - đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Đạo đức mới bắt nguồn từ đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản, là đạo đức tiên tiến nhất trong lịch sử đạo đức xã hội. Nói về đạo đức cộng sản chủ nghĩa, Lênin cho rằng “Đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang và tạo ra xã hội mới của những người cộng sản [49, tr. Trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại.
Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển và sáng tạo những giá trị đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam. Theo Người, những chuẩn mực đạo đức cách mạng Việt Nam thể hiện ở nội dung sau: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, luôn yêu thương, quý trọng con người, sống có tình có nghĩa và có tinh thần quốc tế trong sáng… Người quan niệm lấy đức làm gốc không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đạo đức, coi nhẹ mặt tài. Tiêu chí để đánh giá chính xác đạo đức là ở hành động, ở việc làm, và cách đối nhân xử thế. Đạo đức phải được xem xét trong ba mối quan hệ cơ bản: với mình, với người và với công việc.
Do vậy quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức không phải là lý tưởng cao xa, mà là những thái độ, hành vi, việc làm cụ thể của mỗi người, hằng ngày, hàng giờ trong cuộc sống sinh hoạt, trong học tập, trong lao động và chiến đấu. Người đề ra những nguyên tắc đạo đức đó để cho bản thân mình thực hiện, sau đó mới giáo dục người khác. Người cho rằng, người thực sự có đạo đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành nhiệm 8 vụ được giao. Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, Người chỉ ra “Thanh niên phải có đức, có tài.
Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người” [45, tr. Người đưa ra những phẩm chất cần thiết trong giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho Thanh niên: trung với nước, hiếu với dân, tinh thần dũng cảm, hăng say trong lao động, tinh thần đoàn kết, chống chủ nghĩa cá nhân… Theo từ điển Tiếng việt “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người với nhau và đối với xã hội” [64, tr. Bendzeladze “Đạo đức của con người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã hội.
Nơi nào không có những hành động tự giác của con người thì nơi đó không có nhân phẩm, không thể thực sự có đời sống xã hội. Đặc trưng của đời sống con người và của bản thân tính người (hoặc nhân phẩm) là ở đạo đức và nội dung của đạo đức. Chính là năng lực phục vụ tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác và của toàn xã hội. Trong giáo trình Đạo đức học Mác-Lênin do Vũ Trọng Dung chủ biên, tác giả cho rằng “Đạo đức chính là phép ứng xử có nhân phẩm giữa người này với người khác được điều chỉnh bằng dư luận xã hội.
Đạo đức luôn luôn là quan hệ điều chỉnh các hành vi của con người trong sinh tồn và giao tiếp xã hội; là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội” [11, tr. Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về đạo đức như sau:” Đạo đức là một hiện tượng xã hội - là một hình thái ý thức đặc biệt, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống con người của xã hội loài người, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách cư xử của con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội. Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống dân tộc và sức mạnh của dư luận xã hội.” Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các khái niệm phạm trù như: Thiện, ác, công bằng, lẽ phải, nhân đạo, tình thương, lương tâm, trách nhiệm, trung 9 thực, tự trọng,… Thang giá trị của đạo đức biến đổi theo dòng lịch sử, đạo đức có tính nhân bản, tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại. Ý thức đạo đức của mỗi cá nhân được hình thành nhờ có giáo dục, nhờ có sức mạnh của dư luận xã hội và sự tu dưỡng của từng cá nhân… Với ý nghĩa đó, sự phát triển đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ xã hội.
Đạo đức bao gồm một hệ thống tri thức về giá trị và định hướng giá trị đạo đức, tình cảm và lý tưởng đạo đức, trong đó tình cảm đạo đức là yếu tố quan trọng nhất. Bởi vì, do như cầu phối hợp trong sinh hoạt hàng ngày, trong sản xuất… từ đó nảy sinh khát vọng sống có trách nhiệm với nhau, sống vì cộng đồng, sống được tôn trọng mà hình thành nên tình cảm đạo đức. Cho nên, nếu thiếu đi yếu tố tình cảm đạo đức thì những khái niệm phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức thu nhận bằng con đường lý tính không thể chuyển hóa thành hành vi đạo đức. Khái niệm giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông Giáo dục là một khái niệm đa nghĩa, khi phân tích giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội ta thấy “Giáo dục là một hiện tượng văn minh chỉ có ở xã hội loài người, về bản chất đó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ con người” [66, tr.25] Theo từ điển Tiếng việt “Giáo dục là tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất con người, để họ dần dần có được những phẩm chất năng lực như yêu cầu đề ra” [13].
Ở khái niệm này, ta có thể hiểu, giáo dục là một quá trình hai mặt, một mặt nó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục, mặt khác thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục. Giáo dục là sự dẫn dắt của thế hệ trước đối với thế hệ sau, một sự dẫn dắt có mục đích, có kế hoạch, có nội dung và có phương pháp được chọn lọc. “Giáo dục là con đường ngắn nhất giúp thế hệ trẻ phát triển, bỏ qua những vấp váp, sai lầm không cần có trong cuộc sống” [66, tr.