chương I của tác phẩm, chúng ta được đến với một Dế Mèn với vẻ ngoài cường tráng, khỏe mạnh nhưng tính tình còn kiêu căng, xốc nổi; một Dế Choắt ốm yếu nhưng hiền lành, vị tha, nhân hậu. Bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn mang ý nghĩ vô cùng sâu sắc! 1. Giải quyết vấn đề: B1: Khái quát về văn bản: xuất xứ, nhân vật, tóm tắt, bố cục, khái quát giá trị của văn bản,… B2: Phân tích nội dung – nghệ thuật của văn bản theo luận điểm: 1. Nhân vật Dế Mèn.
Bức chân dung tự họa của Dế Mèn. Ngay đầu đoạn trích, hình ảnh Dế Mèn hiện lên vô cùng sống động qua bức chân dung tự họa của mình: - Ngoại hình Dế Mèn: Đôi càng mẫm bóng, vuốt cứng, nhọn hoắt, cánh dài, răng đen nhánh, râu dài uốn cong, hùng dũng. - Hành động của Dế Mèn: Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 + Nhai ngoàm ngoạm. + Co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ; + Đi đứng oai vệ; + Quát mấy chị Cào Cào ngụ ngoài đầu bờ; thỉnh thoảng, ngứa chân đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên.
- Ngôn ngữ của Dế Mèn: gọi Dế Choắt là “chú mày” với giọng điệu khinh khỉnh. - Tâm trạng của Dế Mèn: hãnh hiện, tự hào cho là mình đẹp, cường tráng và giỏi. => Qua những chi tiết trên cho thấy Dế Mèn là một chàng thanh niên trẻ trung, yêu đời, tự tin nhưng vì tự tin quá mức về vẻ bề ngoài và sức mạnh của mình dẫn đến kiêu căng, tự phụ, hống hách, cậy sức bắt nạt kẻ yếu. => Nghệ thuật: + Kể chuyện kết hợp miêu tả; + So sánh, tính từ gợi hình gợi tả (mẫm bóng, nhọn hoắt, bóng mỡ, đen nhánh .) + Từ ngữ chính xác, sắc cạnh với nhiều động từ (đạp, nhai.) + Giọng văn sôi nổi.
Diễn biến câu chuyện Dế Mèn trêu chị Cốc dẫn đến cái chết thương tâm của Dế Choắt Văn bản kể lại một trải nghiệm đau lòng của Dế Mèn. Đó là việc Mèn trêu chị Cốc dẫn đến cái chết thương tâm của Dế Choắt, qua đó khắc hoạ sự thay đổi tâm lí của nhân vật. * Thái độ của Dế Mèn với Dế Choắt và bà con hàng xóm: Coi thường, khinh khi, nhìn bạn với cái nhìn trịch thượng: - Cái tên cũng do Dế Mèn đặt (giễu cợt). - Cách xưng hô: “chú mày”- “ta”.
- Ngoại hình: + Như gã nghiện thuốc phiện. Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 + Cánh ngắn ngủn, râu một mẩu, mặt mũi ngẩn ngơ. + Hôi như cú mèo. - Nhận xét về tính cách, sinh hoạt của Dế Choắt: + Dại dột, có lớn mà không có khôn.
+ Ăn ở bẩn thỉu, lôi thôi. - Lời từ chối của Dế Mèn khi Dé Choắt mong muốn được giúp đỡ: (đào hang sâu, có đường sang hang của Dế Mèn phòng lúc hoạn nạn), Dế Mèn thẳng thừng từ chối, thậm chí còn miệt thị Dế Choắt: hôi hám… →Dế Choắt trong mắt của Dế Mèn: Xấu xí, yếu ớt, lười nhác, bẩn thỉu. →Đó là thói ích kỉ, hẹp hòi, ngạo mạn, lạnh lùng trước hoàn cảnh khốn khó của đồng loại. * Sự việc Dế Mèn trêu chị Cốc dẫn đến cái chết của Dế Choắt: - Diễn biến hành động và tâm lí của Dế Mèn: + Lúc đầu thì huênh hoang trước Dế Choắt.
+ Hát véo von, xấc xược… với chị Cốc + Sau đó chui tọt vào hang vắt chân chữ ngũ, nằm khểnh yên trí. + Khi Dế choắt bị Cốc mổ thì nằm im thin thít, khi Cốc bay đi rồi mới dám mon men bò ra khỏi hang. → Hèn nhát, tham sống sợ chết, bỏ mặc bạn bè, không dám nhận lỗi. - Đó không dũng cảm mà là sự liều lĩnh, ngông cuồng thiếu suy nghĩ: vì nó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho Dế Choắt.
- Dế Mèn bỏ mặc bạn bẻ trong cơn nguy hiểm…hèn nhát, không dám nhận lỗi c. Bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn. - Hậu quả: Gây ra cái chết thảm thương cho Dế Choắt (Kẻ phải trực tiếp chịu hậu quả của trò đùa này là Dế Choắt). - Với Dế Mèn: + Mất bạn láng giềng.
+ Bị Dế Choắt dạy cho bài học nhớ đời. + Suốt đời phải ân hận vì lỗi lầm của mình gây ra. - Tâm trạng của Dế Mèn: + Dế Mèn thể hiện ân hận, hối lỗi. + Nâng đầu Dế Choắt vừa thương, vừa ăn năn hối hận.
+ Chôn xác Dế Choắt vào bụi cỏ um tùm. Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 Nhận xét: - Nghệ thuật + Miêu tả tâm lí nhân vật sinh động, hợp lí. + Việc tác giả sử dụng ngôi kể thứ nhất, cho Dế Mèn tự kể lại câu chuyện của mình đã khiến câu chuyện trở nên chân thực, khách quan, nhân vật có thể bộc lộ rõ nhất tâm trạng, cảm xúc của mình khi trải qua. - Đặc điểm nhân vật Dế Mèn: vẻ đẹp ngoại hình của chàng dế mới lớn nhưng tính nết còn kiêu căng, xốc nổi, sau một lần ngỗ nghịch dại dột đáng ân hận suốt đời đã rút ra bài học đầu tiên cho chính mình.
Nhân vật Dế Choắt - Về ngoại hình của Dế Choắt: Chú dế này có dáng người gầy gò, dày lêu nghêu “như một gã nghiện thuốc phiện”, “ngắn củn đến giữa lưng”, hở cả mạng sườn “như người cởi trần mặc áo gi-lê”. - Về sức khỏe và cuộc sống của Dế Choắt: + Dế Choắt quả vừa gầy lại ốm yếu, chậm phát triển, lại thêm vẻ xấu xí của đôi càng “bè bè, nặng nề”, râu ria ngắn cũn, cụt còn có một mẩu, dưới con mắt của Dế Mèn, Dế Choắt lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ. + Hang của Dế Choắt không được sâu như những chú dế khác. -Về tính cách của Dế Choắt: hiền lành, cam phận, lễ phép tôn trọng mọi người - Cảm nhận về bài học mà Dế Choắt dành cho Dế Mèn: + Dế Choắt đã thiệt mạng một cách oan uổng, cái chết của Dế Choắt đã giúp cho Dế Mèn nhận ra được bài học nhớ đời + Dế Choắt có tấm lòng vị tha, nhân hậu.
* Nhận xét: - Nghệ thuật miêu tả nhân vật qua ngoại hình, lời nói,.sinh động phù hợp, tương phản với nhân vật Dế Mèn. - Ý nghĩa nhân vật Dế Choắt: Sự xuất hiện của Dế Choắt vừa làm rõ bản tính của Dế Mèn, lại vừa giúp cho Dế Mèn nhận ra được thói xấu của mình, Dế Choắt cũng chính là nguyên nhân để Dế Mèn thay đổi suy nghĩ để sống tốt hơn. Đánh giá khái quát a. Nghệ thuật: - Là một đoạn trích đặc sắc của thể loại truyện đồng thoại; kể chuyện kết hợp với miêu tả sống động.
- Xây dựng hình tượng nhân vật Dế Mèn gần gũi với trẻ thơ, miêu tả loài vật chính xác, sinh động. - Lựa chọn ngôi kể, lời văn giàu hình ảnh, cảm xúc, sử dụng nhiều phép Các phép tu từ so sánh, nhân hóa đặc sắc. Nội dung: Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 - Vẻ đẹp cường tráng của Dế Mèn cùng thói kiêu căng, xốc nổi đã gây ra cái chết của Dế Choắt. Dế Mèn hối hận và rút ra bài học cho mình.
- Bài học về lối sống thân ái, chan hòa; yêu thương giúp đỡ bạn bè; cách ứng xử lễ độ, khiêm nhường; sự tự chủ; ăn năn hối lỗi trước cử chỉ sai lầm. LUYỆN ĐỀ DẠNG 1: TRẮC NGHIỆM: Câu 1: Đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên được trích từ tác phẩm nào? A. Đất rừng phương Nam. Dế Mèn phiêu lưu kí.
Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng. Những năm tháng cuộc đời. Câu 2: Đoạn trích nằm ở phần nào của tác phẩm? A. Chương III C.
Chương VI D. Chương X Câu 3: Hai nhân vật chính trong đoạn trích trên là ai? A. Mẹ Dế Mèn và Dế Mèn. Dế Mèn và chị Cốc.
Dế Mèn và Dế Choắt. Chị Cốc và Dế Choắt. Câu 4: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là A. Biểu cảm Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 C.
Nghị luận Câu 5: Đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên được kể lại theo lời của nhân vật nào? A. Câu 6: Tác giả đã khắc họa vẻ ngoài của Dế Mèn như thế nào? A. Ốm yếu, gầy gò và xanh xao. Khỏe mạnh, cường tráng và đẹp đẽ.
Mập mạp, xấu xí và thô kệch. Thân hình bình thường như bao con dế khác. Câu 7: Tính cách của Dế Mèn trong đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên như thế nào? A. Hiền lành, tốt bụng và thích giúp đỡ người khác.
Khiêm tốn, đối xử hòa nhã với tất cả các con vật chung quanh, C. Hung hăng, kiêu ngạo, xem thường các con vật khác. Hiền lành và ngại va chạm với mọi người. Câu 8: Bài học đường đời đầu tiên mà Dế Mèn rút ra được qua cái chết của Dế Choắt là gì? A.
Không nên trêu ghẹo những con vật khác, nhất là họ hàng nhà Cốc. Nếu có ai nhờ mình giúp đỡ thì phải nhiệt tâm thực hiện, nếu không có ngày mình cần thì sẽ không có ai giúp đỡ. Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào thân. DẠNG 2: THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU: Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 Giáo Án Dạy Thêm Ngữ Văn 6 Cánh Diều Học Kỳ 2 *GV hướng dẫn HS thực hành các đề đọc hiểu về văn bản: “Bài học đường đời đầu tiên” (trích Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài): Đề số 01: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: “.Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ.
Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Đôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe thấy tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn.
Đầu tôi to ra và nổi từng tảng, rất bướng. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng. Tôi lấy làm hãnh diện với bà con về cặp râu ấy lắm.