Luận văn: Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN huyện Càng Long

Luận văn về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và hiệu quả hoạt động. Tải luận văn miễn phí!

Trường đại học

Trường Đại học Trà Vinh

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục từ viết tắt

TÓM TẮT

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Mục tiêu cụ thể

Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Phương pháp nghiên cứu

Phạm vi giới hạn đề tài

Phạm vi nội dung

Phạm vi không gian

Phạm vi thời gian

Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

1.1. Khái quát về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.1.1. Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị

1.1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.1.3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1.1. Khái niệm hoạt động giám sát
1.2.1.2. Đặc điểm hoạt động giám sát
1.2.1.3. Tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát
1.2.1.4. Đối tượng, phạm vi, phương pháp, hình thức giám sát

1.2.2. Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.2.1. Khái niệm hoạt động phản biện xã hội
1.2.2.2. Đặc điểm hoạt động phản biện xã hội
1.2.2.3. Tính chất, mục đích và nguyên tắc phản biện xã hội
1.2.2.4. Đối tượng, nội dung, phạm vi, phương pháp, hình thức phản biện xã hội

1.3. Mối quan hệ giữa giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.4. Vai trò của hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.5.1. Yếu tố hội nhập

1.5.2. Yếu tố chính trị

1.5.3. Yếu tố kinh tế - xã hội

1.5.4. Yếu tố văn hoá - xã hội

1.5.5. Yếu tố nguồn lực

1.5.6. Yếu tố nhận thức và sự tham gia của người dân

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

2.1. Khái quát về huyện Càng Long và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

2.1.1. Khái quát về huyện Càng Long

2.1.2. Khái quát về Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Càng Long

2.2. Phân tích thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn huyện Càng Long

2.2.1. Hoạt động giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn huyện Càng Long

2.2.2. Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn huyện Càng Long

2.3. Đánh giá chung về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên địa bàn huyện Càng Long

2.3.1. Những ưu điểm và nguyên nhân

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

3.1. Dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Càng Long trong thời gian tới

3.1.1. Những yếu tố chủ quan

3.1.2. Những yếu tố khách quan

3.2. Quan điểm đảm bảo hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

3.2.2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy vai trò và sự đóng góp của Nhân dân trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội

3.2.3. Giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm phát hiện, bổ sung, điều chỉnh những nội dung còn thiếu, chưa phù hợp trong thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và địa phương

3.2.4. Giám sát, phản biện xã hội phải góp phần tích cực vào việc xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

3.3. Giải pháp bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

3.3.1. Tăng cường các cơ chế, chính sách và điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội

3.3.2. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến gắn với giám sát việc thực hiện các quy định về giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Càng Long

3.3.3. Nâng cao hiệu quả tiếp thu, xử lý, giải quyết trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội

3.3.4. Tăng cường chất lượng các nguồn lực phục vụ hoạt động giám sát, phản biện xã hội

3.3.5. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong huyện Càng Long cần tự đổi mới hoạt động giám sát, phản biện xã hội

3.3.6. Nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, các cấp đối với hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

3.3.7. Phát huy dân chủ trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt phải được quy định và công khai hoá để Nhân dân biết, giám sát

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN Khái niệm Vai trò

Hoạt động giám sát và phản biện xã hội là một trong những nhiệm vụ cốt lõi, thể hiện rõ nhất vị thế và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) trong hệ thống chính trị. Đây không chỉ là công cụ để phát huy quyền làm chủ của nhân dân mà còn là cơ chế quan trọng để tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Hiến pháp năm 2013 đã hiến định rõ vai trò này tại Điều 9, khẳng định MTTQVN là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Hoạt động này bao gồm hai mảng chính: giám sát và phản biện. Giám sát là việc theo dõi, xem xét, đánh giá việc thực thi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phản biện xã hội là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến đối với các dự thảo văn bản trước khi được ban hành. Cả hai hoạt động này đều nhằm mục tiêu chung là đảm bảo các quyết sách được đưa ra phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng của người dân, tăng cường đồng thuận xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 và Quyết định 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị là những văn bản pháp lý quan trọng, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động của MTTQVN trong lĩnh vực này, quy định rõ về đối tượng, nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện. Thông qua đó, MTTQVN trở thành cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, góp phần làm cho bộ máy nhà nước hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả.

1.1. Vị trí và vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị

Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được xác định là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu. Vị trí này được khẳng định tại Điều 9 Hiến pháp 2013. MTTQVN là bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò của Mặt trận thể hiện ở việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân. Mặt trận thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội để tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, đảm bảo các cơ quan công quyền hoạt động đúng pháp luật, vì lợi ích của nhân dân. Đây là một kênh quan trọng để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thể hiện ý chí, nguyện vọng và đóng góp trí tuệ vào các quyết sách chung của đất nước.

1.2. Cơ sở pháp lý giám sát xã hội theo Hiến pháp và luật định

Cơ sở pháp lý giám sát xã hội của MTTQVN được xây dựng một cách hệ thống và vững chắc. Nền tảng pháp lý cao nhất là Hiến pháp năm 2013, trong đó Điều 9 quy định rõ chức năng giám sát và phản biện xã hội. Cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã dành riêng Chương V để quy định chi tiết về hoạt động này. Đặc biệt, Quyết định 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” đã tạo ra một bước ngoặt, cung cấp một cơ chế rõ ràng, cụ thể về mục đích, nguyên tắc, đối tượng, nội dung, và hình thức thực hiện. Những văn bản này không chỉ là cơ sở pháp lý mà còn là công cụ hữu hiệu để MTTQVN các cấp chủ động triển khai hoạt động một cách đồng bộ và hiệu quả trên thực tế.

II. Thách thức trong thực trạng giám sát và phản biện xã hội

Thực trạng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN bên cạnh những kết quả tích cực vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Một trong những hạn chế lớn nhất là nhận thức của một bộ phận cấp ủy, chính quyền về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động này chưa đầy đủ, đôi khi còn xem nhẹ, dẫn đến sự phối hợp thiếu chặt chẽ. Năng lực của đội ngũ cán bộ Mặt trận, đặc biệt ở cấp cơ sở, còn hạn chế, thiếu kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu để thực hiện giám sát, phản biện các vấn đề phức tạp. Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của MTTQVN như kinh phí, cơ sở vật chất và cơ chế hoạt động còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Chất lượng các kiến nghị sau giám sát, phản biện đôi khi chưa cao, tính khả thi thấp và việc tiếp thu, giải quyết của các cơ quan chức năng có lúc còn hình thức, chậm trễ. Thêm vào đó, sự tham gia của người dân và các chuyên gia, nhà khoa học vào hoạt động này chưa thực sự sâu rộng. Đây là những rào cản chính làm giảm hiệu quả thực chất của công tác giám sát và phản biện xã hội, đòi hỏi phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả một cách đồng bộ và quyết liệt trong thời gian tới.

2.1. Phân tích những hạn chế trong nhận thức và nguồn lực

Một trong những hạn chế cố hữu xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cấp ủy đảng, chính quyền. Việc xem nhẹ chức năng này làm giảm tác dụng và hiệu quả của các kiến nghị. Như luận văn của tác giả Bùi Thị Bé Ba chỉ ra, “nhận thức và trách nhiệm của một số đối tượng được giám sát và phản biện xã hội còn biểu hiện chưa đúng, chưa đầy đủ”. Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho hoạt động này còn rất hạn chế. Đội ngũ cán bộ Mặt trận thường kiêm nhiệm nhiều công việc, đặc biệt ở cấp xã, dẫn đến sự phân tán, thiếu chuyên sâu. Nguồn kinh phí và các điều kiện vật chất khác để tổ chức các cuộc giám sát, hội nghị phản biện chuyên sâu còn thiếu thốn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và quy mô hoạt động.

2.2. Bất cập trong cơ chế phối hợp và xử lý sau giám sát

Cơ chế phối hợp giữa MTTQVN với các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác đôi khi chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ. Việc xây dựng kế hoạch giám sát chung còn chồng chéo, chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm. Một thách thức lớn khác là chất lượng xử lý các kiến nghị sau giám sát, phản biện. Thực tế cho thấy, không ít kiến nghị của Mặt trận chưa được các cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, giải trình hoặc giải quyết một cách thấu đáo, kịp thời. Tình trạng này có thể dẫn đến tâm lý nể nang, ngại va chạm của cán bộ Mặt trận và làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào hiệu quả của hoạt động giám sát, từ đó làm suy yếu vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

III. Hướng dẫn quy trình giám sát xã hội của MTTQVN hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả giám sát xã hội, MTTQVN cần thực hiện theo một quy trình bài bản, khoa học, dựa trên các cơ sở pháp lý giám sát xã hội đã được ban hành. Quy trình này bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch giám sát hàng năm, trong đó cần xác định rõ đối tượng, nội dung, phạm vi và thời gian thực hiện. Việc lựa chọn nội dung giám sát phải xuất phát từ những vấn đề mà dư luận và nhân dân quan tâm, những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng. Bước tiếp theo là thành lập đoàn giám sát với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các tầng lớp nhân dân. Đoàn giám sát tiến hành thu thập thông tin, nghiên cứu văn bản, tổ chức khảo sát thực tế và làm việc trực tiếp với đối tượng được giám sát. Một hình thức giám sát quan trọng tại cơ sở là thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dânBan giám sát đầu tư của cộng đồng. Các ban này giúp theo dõi việc thực hiện chính sách, pháp luật và giám sát các dự án đầu tư tại địa phương. Sau khi kết thúc giám sát, đoàn phải xây dựng báo cáo kết quả, trong đó đánh giá rõ ưu điểm, hạn chế và đưa ra các kiến nghị cụ thể, có tính khả thi. Cuối cùng, MTTQVN phải theo dõi, đôn đốc việc giải quyết, trả lời các kiến nghị của mình, đồng thời công khai kết quả để nhân dân cùng biết và giám sát.

3.1. Nguyên tắc và mục đích giám sát theo Quyết định 217 QĐ TW

Quyết định 217-QĐ/TW đã xác định rõ các nguyên tắc cốt lõi cho hoạt động giám sát, bao gồm: đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp Hiến pháp và pháp luật; công khai, minh bạch, khách quan, mang tính xây dựng; không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức được giám sát. Mục đích của giám sát là nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; kịp thời phát hiện sai sót, yếu kém để kiến nghị sửa đổi; phát huy những nhân tố tích cực và quan trọng nhất là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

3.2. Vai trò của Ban Thanh tra nhân dân trong giám sát tại cơ sở

Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở cấp xã, phường, thị trấn, là một công cụ giám sát trực tiếp và hiệu quả của nhân dân. Thông qua Ban Thanh tra nhân dân, người dân có thể giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; việc thu, chi các loại quỹ và các khoản đóng góp của nhân dân. Hoạt động của MTTQVN cấp xã có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Ban này, đảm bảo Ban hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, thực sự là tai mắt của nhân dân tại cơ sở, góp phần ngăn ngừa tiêu cực và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho cộng đồng.

3.3. Giám sát dự án qua Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

Đối với các chương trình, dự án đầu tư trên địa bàn xã, vai trò của Ban giám sát đầu tư của cộng đồng là vô cùng quan trọng. Ban này do MTTQVN cấp xã quyết định thành lập, có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra xem việc triển khai dự án có tuân thủ các quy định về quy hoạch, kỹ thuật, chất lượng, tiến độ hay không. Hoạt động này giúp ngăn chặn tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công, đảm bảo các công trình phục vụ đúng lợi ích của cộng đồng dân cư. Đây là một hình thức giám sát thiết thực, thể hiện rõ quyền làm chủ của người dân trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tại địa phương.

IV. Phương pháp phản biện xã hội để góp ý xây dựng chính sách

Phản biện xã hội là một phương thức dân chủ quan trọng để MTTQVN tham gia vào quá trình lập pháp, lập quy, đảm bảo các văn bản, chính sách khi ban hành có tính khả thi và hợp lòng dân. Để góp ý xây dựng chính sách hiệu quả, MTTQVN cần triển khai các phương pháp phản biện một cách đa dạng và linh hoạt. Phương pháp phổ biến nhất là tổ chức hội nghị phản biện, mời các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách và đại diện các tầng lớp nhân dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến. Bên cạnh đó, MTTQVN có thể gửi dự thảo văn bản đến các cơ quan, tổ chức thành viên và các cá nhân tiêu biểu để lấy ý kiến bằng văn bản. Một phương pháp hiệu quả khác là tổ chức đối thoại trực tiếp giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với đại diện của MTTQVN và các chuyên gia. Quá trình này giúp làm rõ các vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự thấu hiểu và đồng thuận. Các hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử cũng là một kênh quan trọng để MTTQVN tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân, làm cơ sở cho hoạt động phản biện. Nội dung phản biện cần tập trung vào sự cần thiết, tính hợp pháp, tính khoa học, khả thi và tác động của dự thảo văn bản đối với đời sống xã hội.

4.1. Đối tượng và nội dung phản biện trong xây dựng Đảng chính quyền

Theo quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đối tượng của phản biện xã hội là các dự thảo văn bản của cơ quan nhà nước cùng cấp liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân, cũng như quyền và trách nhiệm của MTTQVN. Nội dung phản biện tập trung vào các khía cạnh cốt lõi như: sự cần thiết ban hành văn bản; sự phù hợp với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tính đúng đắn, khoa học, và khả thi của dự thảo. Đặc biệt, việc đánh giá tác động về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và khả năng đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, tổ chức và nhân dân là nội dung trọng tâm. Qua đó, phản biện xã hội góp phần trực tiếp vào quá trình xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng hoàn thiện.

4.2. Cách thức tổ chức hội nghị đối thoại và tiếp xúc cử tri

Hình thức tổ chức phản biện rất đa dạng. Việc tổ chức hội nghị phản biện cho phép tập hợp trí tuệ tập thể một cách rộng rãi. Gửi văn bản lấy ý kiến giúp tiếp cận được nhiều đối tượng chuyên sâu nhưng không có điều kiện dự họp. Tổ chức đối thoại trực tiếp là hình thức hiệu quả để giải quyết các vấn đề phức tạp, cần sự tranh luận thẳng thắn. Ngoài ra, MTTQVN phối hợp chặt chẽ với Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp trong hoạt động tiếp xúc cử tri. Thông qua các cuộc tiếp xúc này, Mặt trận nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tổng hợp thành các kiến nghị có giá trị thực tiễn cao để phục vụ cho cả hoạt động giám sát và phản biện xã hội.

V. Top 5 giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội

Để hoạt động giám sát và phản biện xã hội thực sự đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thực chất, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả. Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về vị trí, vai trò của công tác này, xem đây là một yêu cầu tất yếu trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, tăng cường các cơ chế, chính sách và điều kiện đảm bảo, đặc biệt là về kinh phí và cơ sở vật chất, để MTTQVN các cấp có đủ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ. Thứ ba, cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cán bộ Mặt trận phải được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về kỹ năng, nghiệp vụ giám sát, phản biện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, dám nghĩ, dám nói, dám làm. Thứ tư, bản thân MTTQVN các cấp cần tự đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, lựa chọn vấn đề giám sát, phản biện có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, hình thức. Cuối cùng, phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân trực tiếp tham gia giám sát, đóng góp ý kiến, bởi đây chính là nguồn sức mạnh to lớn nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

5.1. Tăng cường lãnh đạo của Đảng và đổi mới hoạt động của MTTQVN

Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định thành công. Các cấp ủy cần tăng cường chỉ đạo, định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của MTTQVN. Đồng thời, MTTQVN cần chủ động, sáng tạo trong việc đổi mới phương thức hoạt động. Thay vì giám sát dàn trải, cần tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, các vấn đề bức xúc mà nhân dân quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tập hợp ý kiến, tổ chức phản biện trực tuyến cũng là một hướng đi cần được đẩy mạnh để mở rộng sự tham gia và nâng cao hiệu quả.

5.2. Nâng cao chất lượng nguồn lực và cơ chế phối hợp hoạt động

Con người là yếu tố then chốt. Cần có chính sách thu hút, bồi dưỡng và đãi ngộ xứng đáng cho đội ngũ cán bộ Mặt trận và các chuyên gia cộng tác. Việc xây dựng đội ngũ chuyên gia tư vấn trên các lĩnh vực là rất cần thiết để nâng cao tính khoa học và chiều sâu cho các kiến nghị. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy chế phối hợp giữa MTTQVN với HĐND, UBND và các cơ quan tư pháp cùng cấp. Một cơ chế phối hợp rõ ràng, chặt chẽ sẽ tránh được sự chồng chéo, nâng cao hiệu quả tiếp thu, giải quyết các kiến nghị sau giám sát, phản biện, đảm bảo mọi ý kiến đóng góp đều được tôn trọng và xử lý kịp thời.

26/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1.1 KHÁI QUÁT VỀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1.1 Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị “Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo mà đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ tĩnh đang diễn ra sôi nổi và rầm rộ trong cả nước, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương ra chỉ thị về vấn đề thành lập Hội phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam. Từ đó tới nay, ở mỗi thời kỳ khác nhau có những hình thức và tên gọi tổ chức cụ thể khác nhau phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng nhưng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam nơi tập hợp các giai tầng trong xã hội vì những mục tiêu lớn của dân tộc luôn tồn tại và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam - người chủ xướng việc hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất trong thời hiện đại - vừa là thành viên tích cực của Mặt trận vừa bằng sự sáng tạo, đúng dắn trong đường lối, chính sách, sự gương mẫu phấn đấu vì lợi ích chung của dân tộc đã được các thành viên của Mặt trận thừa nhận vai trò lãnh đạo”12. Đến nay vị trí, vai trò của MTTQVN được thừa nhận tại văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước ta là Hiến pháp, cụ thể tại Điều 9, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, 12 http://mattran.vn/gioi-thieu/lich-su-mat-tran-dan-toc-thong-nhat-32564. 10 chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới”13. Tại Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2019 đã nêu rất rõ về mối quan hệ, nhiệm vụ của MTTQVN cụ thể như sau: “MTTQVN là bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Điều này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, xuất phát từ thể chế chính trị: Nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về Nhân dân.

Đây còn là vấn đề lịch sử, từ khi có Đảng là có Mặt trận. Sau khi giành được chính quyền, Đảng, Nhà nước, Mặt trận là những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đều có chung mục đích là phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận là mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, vì mục tiêu chung”14.

Về nhiệm vụ của MTTQVN là “cơ sở quần chúng của Đảng, góp phần phát huy sức mạnh bộ máy tổ chức Đảng, tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa Đảng và Nhân dân. Mặt trận phối hợp hành động của các tổ chức thành viên thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng; vận động Nhân dân phát huy tính tích cực chính trị trong xây dựng và bảo vệ Đảng; giám sát hoạt động của cấp ủy Đảng và đảng viên; góp phần xây dựng các chủ trương, nghị quyết của Đảng, đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả thực tiễn trong chủ trương, chính sách của Đảng thông qua hoạt động phản biện”15. Tại Điều 1, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2019 quy định về thành viên của MTTQVN như sau: “Thành viên của MTTQVN các cấp bao gồm tổ 13 Điều 9, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. 14 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2019.

15 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2019. 11 chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức và hoạt động của MTTQVN được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động. Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên của MTTQVN tuân theo điều lệ MTTQVN; đồng thời vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình”16.

Tại Điều 30, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2019 xác định mối quan hệ giữa MTTQVN với Nhà nước là mối quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên theo quy định của Hiến pháp và pháp luật và quy chế phối hợp công tác do UBMTTQ và cơ quan nhà nước có liên quan ở từng cấp ban hành17. Sự phối hợp giữa MTTQVN và Nhà nước là một tất yếu và xuất phát từ nhu cầu tự thân của cả MTTQVN lẫn Nhà nước. Đối với Nhà nước, MTTQVN tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước, góp phần phát huy sức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước, theo đó: Đây là mối quan hệ giữa một bên là Mặt trận Tổ quốc là cơ sở chính trị của nhà nước, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và có trách nhiệm tham gia xây dựng nhà nước. Và bên kia là nhà nước nói chung và các cán bộ, công chức nhà nước nói riêng, có trách nhiệm và tạo điều kiện cho MTTQVN hoạt động theo quy định của pháp luật.

MTTQVN là cơ sở nòng cốt để tập hợp quần chúng Nhân dân, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc tham gia thực hiện quyền làm chủ của mình trên nguyên tắc “phát triển đa dạng các hình thức tổ chức, hoạt động để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, quá khứ nhằm động viên mọi nguồn lực góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”18 MTTQVN đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân bằng cách hình thức như phối hợp với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, phối hợp với 16 Điều 1, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2019. 17 Điều 30, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX thông qua ngày 20 tháng 9 năm 2019. 18 Điều 12, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 (Luật số 75/2015/QH13, ngày 09/6/2015). 12 đại biểu Quốc Hội, đại biểu HĐND các cấp tiếp xúc, gặp gỡ cử tri để lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của quần chúng Nhân dân từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân thông qua việc kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan Nhà nước.

Ngoài ra, MTTQVN tuyên truyền, phổ biển pháp luật đến quần chúng Nhân dân, làm cho Nhân dân tích cực tham gia, tin tưởng vào công cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, của Đảng, Nhà nước. Tham gia xây dựng Nhà nước thông qua việc tham gia vào các giám sát các hoạt động hành pháp của Nhà nước. Thông qua MTTQVN và các tổ chức đoàn thể của MTTQVN đưa các chính sách, pháp luật của Nhà nước vào quần chúng Nhân dân, từ đó thúc đẩy hoạt động quản lý của Nhà nước mang tính tập trung, phát huy tính hiệu quả và cũng là một trong những cơ sở để đánh giá, sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi các chính sách của Nhà nước. Có thể nói, MTTQVN là thành viên chiến lược của hệ thống chính trị, trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hệ thống chính trị chỉ có thể hoạt động một cách hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở phát huy được tính tiên phong của MTTQVN và các tổ chức đoàn thể của MTTQVN vào các hoạt động quản lý Nhà nước, tạo sự ổn định của các quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội, góp phần củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Về cơ cấu tổ chức của MTTQVN hiện nay đã cơ bản hoàn chỉnh và được ghi nhận tại Điều 6, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 như sau: “1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ