đặt vấn đề chất lƣợng hoạt động của HĐND tỉnh trong môi trƣờng dân chủ và thực hiện dân chủ ở địa phƣơng một cách đầy đủ và toàn diện, bao gồm cả chức năng quyết định, chức năng giám sát của HĐND và năng lực cá nhân của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Sát với chủ đề Luận văn “Nâng cao hiệu lực giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Vũ Mạnh Thông, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998. Tác giả Vũ Mạnh Thông đã đề cập đến hiệu lực giám sát trong luận văn thạc sĩ của mình, nhƣng chỉ khai thác ở khía cạnh nâng cao hiệu lực giám sát nói chung không đi vào giám sát một vấn đề cụ thể. Hơn nữa, luận văn đó đƣợc viết từ năm 1998, so với điều kiện đất nƣớc ta hiện nay đã có nhiều thay đổi.
Đặc biệt sau khi Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 ban hành, hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh đã có nhiều vấn đề mới đƣợc đặt ra cả về lý luận và thực tiễn. Cũng nội dung về giám sát nhƣng tác giả Phạm Quang Hƣng, nghiên cứu về “Năng lực thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương đối với quản lý hành chính nhà nước về đất đai”, là Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007. Trong Luận văn tác giả Phạm Quang Hƣng, đề cập về chức năng giám sát của HĐND đối với quản lý hành chính nhà nƣớc về đất đai, là một khía cạnh trong giám sát của HĐND về kinh tế; Luận văn cũng đã làm rõ về mặt lý luận 8 z khái niệm năng lực thực hiện chức năng giám sát của HĐND, cũng nhƣ các yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực thực hiện chức năng giám sát, các tiêu chí đánh giá năng lực thực hiện chức năng giám sát của HĐND cấp tỉnh và đƣa ra các giải pháp để nâng cao năng lực thực hiện chức năng giám sát của HĐND trong lĩnh vực đất đai. Tác giả Hồ Thị Hƣng, luận văn với chủ đề “Nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006.
Đối với tác giả Hồ Thị Hƣng, luận văn ra đời sau khi Luật tổ chức HĐND và UBND ban hành năm 2003 có điểm mới hơn của tác giả Vũ Mạnh Thông, nhƣng chức năng giám sát của HĐND đƣợc tác giả đề cập chung về hiệu quả giám sát và các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả giám sát của HĐND chứ không đi sâu vào một vấn đề hay một khía cạnh cụ thể, vì giám sát của HĐND là giám sát toàn diện trên các lĩnh vực Kinh tế, Văn hóa, xã hội. Những vấn đề đặt ra luận văn cần đi sâu nghiên cứu Các công trình nghiên cứu kể trên chủ yếu mới quan tâm đến chức năng giám sát của Quốc hội, còn về HĐND các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào nâng cao chất lƣợng hoạt động của HĐND; đổi mới về tổ chức và hoạt động của HĐND; về bầu cử hoạt động của HĐND và hiệu quả giám sát của HĐND nói chung, giám sát của HĐND đối với quản lý hành chính về đất đai. Đó là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng để tôi kế thừa và phát triển. Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu trên chƣa có một công trình nào nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách.
Vì vậy, đòi hỏi Luận văn đi sâu nghiên cứu một nội dung cụ thể đó là: + Làm rõ về mặt lý luận hoạt động giám sát của HĐND, cũng nhƣ các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả giám sát. 9 z + Nội dung, tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách. + Những thành tựu, hạn chế trong hoạt động giám sát của HĐND tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách. + Đƣa ra những giải pháp, kiến nghị nào để có thể nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách trong thời gian tiếp theo.
Nhƣ vậy, công trình của tôi nghiên cứu về hoạt động giám sát trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách của HĐND cấp tỉnh là quan trọng, cần thiết và không trùng lặp với bất cứ một công trình khoa học nào đã công bố và đề tài này đƣợc xem là công trình đầu tiên nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách ở địa phƣơng. Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách. Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 1. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Về vị trí của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Thể chế chính trị nƣớc ta là một nƣớc “đơn nhất” các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc đƣợc tổ chức nhƣ sau: Các cơ quan nhà nƣớc ở Trung ƣơng, gồm có cơ quan lập pháp (Quốc hội), thiết chế Chủ tịch nƣớc, các cơ quan hành chính (Chính phủ, các Bộ, ngang bộ và trực thuộc Chính phủ), các cơ quan tƣ pháp (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao).
Các cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng căn cứ vào đặc điểm dân cƣ, địa lý lãnh thổ đƣợc tổ chức ở ba cấp: tỉnh, huyện, xã. Cấp tỉnh gồm: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng; cấp huyện gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; cấp xã gồm: xã, phƣờng, thị trấn. Bộ máy chính quyền nhà nƣớc cấp tỉnh đƣợc tổ chức gồm: HĐND, UBND, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân 10 z dân. Xét theo chiều ngang, chính quyền cấp tỉnh đƣợc tổ chức tƣơng tự nhƣ các cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng, HĐND cùng các cơ quan nhà nƣớc ở cấp tỉnh cấu thành hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, cơ quan hành chính nhà nƣớc, cơ quan tƣ pháp.
Xét theo chiều dọc, HĐND tỉnh cùng HĐND cấp huyện, cấp xã tạo thành hệ thống cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, cùng với Quốc hội tạo thành hệ thống các cơ quan dân cử, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân thực hiện quyền quyết định các chủ trƣơng, chính sách quan trọng của địa phƣơng nói riêng và trong phạm vi toàn quốc. Về vai trò của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Theo Hiến pháp năm 2013, đạo luật cơ bản nhất của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa đã quy định tại Điều 113 “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [41, 2013, tr. Đây cũng là nội dung đƣợc quy định tại điều 1, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Nhƣ vậy, từ những quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, thì Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói riêng có hai tính chất pháp lý cơ bản: “là cơ quan quyền lực Nhà nƣớc ở địa phƣơng” và “là cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phƣơng”.
Thứ nhất, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, thể hiện ở các mặt sau: + Đƣợc thành lập bởi các đại biểu do nhân dân địa phƣơng bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. 11 z + Có quyền căn cứ vào pháp luật, bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh của UBND là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp; cũng nhƣ có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu ra. + Có quyền căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra Nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phƣơng. + Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phƣơng, đồng thời chịu sự giám sát, hƣớng dẫn của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội và hƣớng dẫn kiểm tra của Chính phủ.
Nhƣ vậy, tính chất quyền lực của HĐND đƣợc thể hiện trên nhiều phƣơng diện, nhƣng về mặt địa vị pháp lý không giống với Quốc hội. Quốc hội đƣợc Hiến pháp ghi nhận là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nƣớc về phạm vi, cấp độ cũng nhƣ thẩm quyền, đặc biệt là quyền ban hành Hiến pháp, pháp luật. Ở nƣớc ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến, lập pháp. HĐND cũng là cơ quan quyền lực nhà nƣớc nhƣng ở phạm vi địa phƣơng, chỉ có quyền ban hành Nghị quyết, là loại văn bản pháp quy dƣới Luật, phải phù hợp với văn bản pháp luật vì xuất phát từ tính chất đại diện của Hội đồng.
Thứ hai, HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân địa phƣơng. Ở địa phƣơng, HĐND tỉnh do cử tri trên địa bàn tỉnh trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín; trực tiếp đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân theo quy định của Hiến pháp 2013 tại điều 113. Hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể, mọi quyết định của HĐND đƣợc thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Tính chất đại diện của HĐND về mặt hình thức đƣợc thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng.
Mỗi HĐND có số lƣợng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, ngƣời dân tộc, tổ chức chính 12 z trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lƣợng vũ trang nhân dân và các cơ quan nhà nƣớc đóng tại địa phƣơng. Điều này có nghĩa, HĐND không đại diện cho một đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể nhân dân; thành phần trong HĐND thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống tại địa phƣơng. Tính chất đại diện của HĐND khác với tính chất đại diện của Quốc hội.