Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC 1. Khái niệm giám sát và phản biện 1.1 Khái niệm giám sát Theo từ điển Tiếng Việt năm 1995 của Viện ngôn ngữ học đã nêu khái niệm giám sát “là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” Từ điển Quản lý xã hội “Giám sát là kiểm tra; theo dõi nhằm mục đích kiểm tra chấp hành pháp luật, nghị quyết, quyết định quản lý…” Từ điển Luật học định nghĩa rằng “Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự trách nhiệm đi đúng quỹ đạo, qui chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh” Mặc dù các định nghĩa trên là không đồng nhất, tuy nhiên có thể nhận thấy một điểm chung đó là, các tác giả đều cho rằng giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực hiện một công việc nào đó trong cuộc sống hoặc một nhiệm vụ nào đó của cơ quan Nhà nước và thông qua giám sát chủ thể có quyền kiểm tra tới các đối tượng khi thực hiện hoạt động. Trong lĩnh vực luật pháp thì giám sát là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền tác động đến các đối tượng chịu sự giám sát để đảm bảo cho hoạt động của những đối tượng đó phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Thông qua các quan niệm trên, có thể thấy giám sát có những đặc trưng sau: Thứ nhất: giám sát là hành vi của chủ thể có thẩm quyền thông các hoạt động theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá hành vi của đối tượng giám sát.
10 Thứ hai, mục đích của giám sát là xem xét, đánh giá việc làm, hoạt động của đối tượng giám sát có thực hiện đúng những quy định đã đặt ra hay không, đồng thời qua đó phát hiện kịp thời những hành vi không đúng quy định của đối tượng giám sát,để kịp thời có những biện pháp xử lý nhằm khắc phục sai sót đó. Thứ ba sự tác động qua lại giữa chủ thể giám sát và đối tuợng bị giám sát có mối quan hệ hữu cơ với nhau và gắn quyền và trách nhiệm của mỗi bên. Trong lĩnh vực quản lý hành chính quan hệ giám sát là quan hệ pháp lý vì được pháp luật quy định. Mục đích của chủ thể giám sát đối với đối tƣợng giám sát cùng huớng tới là trạng thái hoạt động bình thường, thông suốt, đúng pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Chủ thể giám sát phải khách quan độc lập với đối tượng giám sát. Giám sát của MTTQ Việt Nam “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội;tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 9 Hiến pháp 2013) Hoạt động giám sát là một hoạt động quan trọng của MTTQ Việt nam, được ghi nhận trong Hiến Pháp 2013 MTTQ Việt Nam cùng với Đảng, Nhà nước là 3 yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, có vai trò nòng cốt của xã hội dân sự, đại diện cho lợi ích của nhân dân sẽ tao ra yếu tố “kiềm chế” thay cho cơ chế “đối trọng” trong hệ thống chính trị .Thực hiện vai trò của yếu tố “ kiềm chế” nhằm kiểm soát quyền lực, tránh xu hướng lạm quyền, vi phạm nền dân chủ, đòi hỏi MTTQ phải thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội của mình. 11 Từ những đánh giá trên ta có thể rút ra định nghĩa về giám sát của MTTQ như sau : “ Giám sát của MTTQ Việt Nam là hoạt động của Mặt trận theo dõi, quan sát, xem xét tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động của cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước đồng thời kiến nghị, yêu cầu, đề xuất cách giải quyết, xứ lý những vấn đề phát sinh với cơ quan Nhà nước hoặc những vấn đề có liên quan” Giám sát của MTTQ Việt Nam được hiểu là "giám sát xã hội", không mang tính quyền lực Nhà nước, là giám sát mang tính nhân dân, giám sát này chỉ dừng lại ở mức "theo dõi, phát hiện, kiến nghị".Như vậy, khi nói đến giám sát của Mặt trận tức là đã bao gồm quyền, trách nhiệm giám sát của các tổ chức thành viên. MTTQ Việt Nam hiện có 46 tổ chức thành viên, trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là hạt nhân lãnh đạo.
Khi thực hiện vai trò giám sát của mình, MTTQ nói chung và các tổ chức thành viên nói riêng tuân theo nguyên tắc bảo đảm phát huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo; không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân đƣợc giám sát. Giám sát của MTTQ Việt Nam nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Ngoài ra, chức năng giám sát của Mặt trận còn hỗ trợ cho công tác giám sát, thanh tra của Nhà nước, kiểm tra của Đảng. Giám sát việc tuân thủ và tổ chức thực hiện các văn bản của cơ quan quyền lực nhà nuớc cùng cấp, cấp trên cũng như của cơ quan hành chính có thẩm quyền; giám sát đối với việc bảo đảm thực hiện các quyền tự do và lợi ích chính đáng của công dân được pháp luật bảo vệ; giám sát đội ngũ cán bộ, công chức thực thi trách nhiệm công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước; 12 giám sát hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước, việc sử dụng các nguồn lực vật chất, tài chính, lao động và các nguồn lực khác trong tổ chức lao động, sử dụng các thành tựu công nghệ mới… Trong hoạt động thường ngày, MTTQ động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tổng hợp ý kiến của nhân dân thông qua việc tiếp xúc thường xuyên để từ đó kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Khái niệm phản biện Theo cách hiểu thông thường, phản biện là sự tranh luận với người đã có quan điểm, ý tưởng nào đó để làm rõ các vấn đề phải trái, đúng sai. Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, “phản biện” được hiểu là việc “ đánh giá chất lượng….” Về phương diện ngữ nghĩa, phản là phê phán cái đã có, biện là có lập luận và phản biện và tranh luận ngược lại. Như vậy, phản biện là tranh luận với những ý kiến có trước bằng lập luận theo chiều ngược lại. Do đó phản biện có giá trị phát hiện sai trái và phê phán những sai trái đó một cách có lập luận Phản biện là một hoạt động không chỉ diễn ra trong nghiên cứu khoa học mà còn là một trong các hoạt động không thể thiếu của đời sống xã hội.Chính vì vậy, trong bất cứ lĩnh vực nào mà con người tham gia hoạt động đều có thể thấy sự xuất hiện của hoạt động này.Tuy nhiên, đối với từng lĩnh vực khác nhau, hoạt động phản biện cũng có những sự khác biệt nhất định cả về mặt nội dung, hình thức và chủ thể phản biện.
Đối với những vấn đề mang tính chất chung, liên quan đến lợi ích của toàn xã hội thì phản biện lại được thực hiện trên một phạm vi rộng với mức độ cao hơn, sâu sắc và quan trọng hơn. Theo quan điểm của các nhà luật học phản biện xã hội là chính kiến của một chủ thể cụ thể thông qua nhận xét, đánh giá góp ý xác đáng đối với chính 13 sách, pháp luật của Nhà nước. Phản biện xã hội về mặt nguyên tắc là sự phản sự phê phán, phê bình của xã hội dựa trên những căn cứ khoa học đối với chính sách, pháp luật của nhà nước để Nhà nước xem xét, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý trong các phản biện đó rồi sửa đổi hay bổ sung, thậm chí hủy bỏ dự thảo chính sách, pháp luật hoặc chính sách, pháp luật đang thi hành. Khi nghiên cứu về “phản biện xã hội”, có thể thấy khái niệm này có một nội hàm tương đối rộng, vì vậy phải tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.Nghiên cứu về phản biện của MTTQVN có thể thấy đây cũng là một dạng phản biện xã hội, cụ thể là phương diện hoạt động phản biện dặc thù khác với các dạng phản biện xã hội khác.
Những vấn đề cụ thể được đưa ra phản biện Ta có thể thấy những chủ trương, chính sách của Đảng, những chương trình, dự án, pháp luật của Nhà nước đang trong quá trình xây dựng dự thảo. Những ý kiến phản biện này được đưa ra dựa trên những cơ sở thực tế, lý luận nhất định, mang tính xây dựng, xuất phát từ cách nhìn nhận thực tế khách quan chứ không đơn thuần chỉ là những phản biện mang tính chủ quan.Đây cũng chính là một trong những điểm để chúng ta phân biệt khái niệm PBXH với một số khái niệm khác mà trong nội hàm của nó có một số điểm tương đồng với khái niệm PBXH như phản biện khoa học, phản đối, dư luận xã hội. Từ những phân tích trên, có thể hiểu PBXH theo nghĩa rộng là sự phản biện của xã hội (sự phản biện mang tính xã hội, do nhiều chủ thể thực hiện) Phản biện xã hội là sự biện luận, thẩm định, đánh giá của các lực lượng xã hội đối với những chủ trương, chính sách, đề án, dự án xã hội liên quan đến quyền, lợi ích của thành viên trong xã hội. Từ những đánh giá trên ta có thể hiểu “Phản biện xã hội là sự phản ánh chính kiến của xã hội đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật do cơ 14 quan có thẫm quyền đề ra, thể hiện qua những nhận xét, đánh giá phân tích có căn cứ và có sức thuyết phục, được thực hiện bới các chủ thể phản biện nhằm truyền tải nguyện vọng của xã hội đến cơ quan có thẫm quyền, có tác dụng thúc đẩy nền dân chủ xã hội và cũng cố thể chế xã hội theo một trình tự nhất định” phù hợp, tính đúng đắn.
Đảng, Nhà nước cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh luôn xác định dân là gốc.