GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CÔNG CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

Chuyên khảo phân tích Luận văn giám sát đầu tư công của quốc hội việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học Viện Tài Chính

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

180
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Giám Sát Đầu Tư Công Nghiên Cứu Luận Án

Đầu tư công (ĐTC) đóng vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư xã hội, ĐTC tạo nền móng vững chắc cho hạ tầng kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư tư nhân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả của ĐTC phụ thuộc vào các quyết sách đầu tư đúng đắn và sự giám sát chặt chẽ. Nghiên cứu luận án này tập trung vào vai trò giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam, một hoạt động quan trọng để đảm bảo nguồn vốn được sử dụng hiệu quả, minh bạch và đúng mục tiêu. Luận án hướng đến việc đánh giá thực trạng, tìm ra các giải pháp để hoàn thiện công tác giám sát ĐTC, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Việc giám sát ĐTC của Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển đổi nhằm đảm bảo sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, ĐTC chuyển mạnh sang đầu tư cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.

1.1. Tính Cấp Thiết của Đề Tài Giám Sát Đầu Tư Công

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam đang được thúc đẩy mạnh mẽ. ĐTC chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của toàn xã hội, có vai trò quan trọng quyết định quá trình đồng bộ và hiện đại hoá hạ tầng KTXH làm nền móng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đồng thời, tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và hiệu quả hơn cho đầu tư của khu vực tư nhân, khơi thông và thu hút hiệu quả nguồn lực của toàn xã hội cho đầu tư phát triển KTXH. Đồng thời ĐTC còn là đòn bẩy, là “mối” thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác, thu hút các loại hình dịch vụ tư nhân tham gia, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước. Hoạt động giám sát ĐTC được coi là một nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan lập pháp.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Luận Án Giám Sát Đầu Tư Công

Mục tiêu chính của luận án là đánh giá một cách toàn diện hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó, luận án đề xuất các giải pháp khả thi, mang tính đột phá nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả giám sát ĐTC của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Đồng thời luận án cũng nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế về giám sát ĐTC của quốc hội.

II. Thực Trạng Giám Sát Đầu Tư Công Vấn Đề và Thách Thức

Mặc dù đã có những đổi mới và tác động tích cực, hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội vẫn còn đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức. Thể chế, chính sách còn chưa hoàn thiện, quy trình giám sát còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Nguồn lực dành cho hoạt động giám sát còn hạn chế, năng lực của các đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực giám sát ĐTC chưa đồng đều. Việc phối hợp giữa Quốc hội với các cơ quan chức năng còn chưa chặt chẽ, hiệu quả. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả của hoạt động giám sát, dẫn đến tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong ĐTC.

2.1. Hạn Chế trong Quy Trình Giám Sát Đầu Tư Công

Một trong những hạn chế lớn nhất là quy trình giám sát ĐTC còn phức tạp, nhiều khâu chồng chéo, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan liên quan. Việc thu thập, xử lý thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát còn chậm trễ, chưa đầy đủ, chính xác. Các công cụ giám sát chưa được sử dụng hiệu quả, đặc biệt là các công cụ giám sát dựa trên công nghệ thông tin. Thêm vào đó, việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát còn chưa được chú trọng, dẫn đến hiệu quả thực tế còn hạn chế.

2.2. Thiếu Hụt Nguồn Lực cho Giám Sát Đầu Tư Công

Nguồn lực, cả về tài chính và nhân lực, dành cho hoạt động giám sát ĐTC còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Số lượng đại biểu Quốc hội tham gia trực tiếp vào hoạt động giám sát còn hạn chế. Năng lực của các đại biểu trong lĩnh vực giám sát ĐTC, đặc biệt là kiến thức chuyên môn về kinh tế, tài chính, luật pháp, còn chưa đồng đều. Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các đại biểu chưa được chú trọng đúng mức. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động giám sát.

2.3. Phối Hợp Giám Sát Đầu Tư Công Chưa Hiệu Quả

Sự phối hợp giữa Quốc hội với các cơ quan chức năng, đặc biệt là Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, và các bộ, ngành liên quan, còn chưa chặt chẽ, hiệu quả. Việc trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ quan còn hạn chế. Cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng chồng chéo, bỏ sót trong hoạt động giám sát. Điều này làm giảm tính khách quan, toàn diện của hoạt động giám sát.

III. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát Đầu Tư Công

Để nâng cao hiệu quả giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam, cần có một hệ thống các giải pháp đồng bộ, toàn diện, tập trung vào hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao năng lực cho các đại biểu Quốc hội, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giám sát. Các giải pháp này cần được triển khai một cách quyết liệt, đồng bộ và có sự giám sát chặt chẽ để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.1. Hoàn Thiện Khuôn Khổ Pháp Lý Giám Sát Đầu Tư Công

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐTCgiám sát ĐTC, đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch và khả thi. Cần xây dựng một luật riêng về giám sát ĐTC để quy định rõ hơn về phạm vi, nội dung, quy trình, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan liên quan. Cần hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về ĐTCgiám sát ĐTC.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Giám Sát Đầu Tư Công Quốc Hội

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các đại biểu Quốc hội về kinh tế, tài chính, luật pháp và các kỹ năng giám sát. Cần xây dựng một đội ngũ chuyên gia tư vấn có trình độ chuyên môn cao để hỗ trợ các đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát. Cần tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các quốc hội khác trên thế giới về giám sát ĐTC.

3.3. Tăng Cường Ứng Dụng Công Nghệ Vào Giám Sát

Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giám sát ĐTC. Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về đầu tư công. Công khai minh bạch thông tin các dự án đầu tư công trên các phương tiện truyền thông. Xây dựng nền tảng số hỗ trợ giám sát đầu tư công.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Nghiên Cứu Giám Sát Đầu Tư Công

Nghiên cứu luận án này có ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đại biểu Quốc hội, các cơ quan chức năng và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ĐTC. Đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng vào việc xây dựng các chính sách, quy định mới về ĐTCgiám sát ĐTC.

4.1. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Lập Pháp

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để xây dựng các luật, nghị quyết, nghị định về ĐTCgiám sát ĐTC, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ và khả thi. Đặc biệt, các giải pháp được đề xuất trong luận án có thể được cụ thể hóa thành các quy định chi tiết về quy trình, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan liên quan.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Hoạt Động Giám Sát

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát ĐTC. Các đại biểu có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để phân tích, đánh giá thực trạng, phát hiện các sai phạm và đề xuất các giải pháp khắc phục. Đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của hoạt động giám sát và đề xuất các giải pháp cải tiến.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Giám Sát Đầu Tư Công Tiêu Chí Phương Pháp

Để đánh giá chính xác hiệu quả giám sát ĐTC của Quốc hội, cần có một hệ thống tiêu chí rõ ràng, cụ thể và phù hợp với thực tế. Các tiêu chí này cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc khoa học, khách quan và có khả năng đo lường được. Đồng thời, cần sử dụng các phương pháp đánh giá phù hợp, kết hợp giữa định tính và định lượng, để có được cái nhìn toàn diện và chính xác về hiệu quả của hoạt động giám sát.

5.1. Xây Dựng Tiêu Chí Đánh Giá Giám Sát Đầu Tư Công

Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa trên các khía cạnh khác nhau của hoạt động giám sát, như tính tuân thủ pháp luật, tính hiệu quả kinh tế, tính hiệu quả xã hội, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Các tiêu chí cần được cụ thể hóa thành các chỉ số đo lường được, giúp cho việc đánh giá trở nên khách quan và chính xác.

5.2. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Giám Sát Đầu Tư Công

Cần sử dụng kết hợp các phương pháp đánh giá định tính và định lượng. Các phương pháp định tính có thể bao gồm phỏng vấn, khảo sát, phân tích tài liệu. Các phương pháp định lượng có thể bao gồm phân tích thống kê, mô hình hóa kinh tế. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ giúp cho việc đánh giá trở nên toàn diện và chính xác hơn.

5.3. Phân Tích Thống Kê Giám Sát Đầu Tư Công

Sử dụng các số liệu thống kê từ Kiểm toán Nhà nướcThanh tra Chính phủ để phân tích và đánh giá kết quả giám sát ĐTC. Các chỉ số được sử dụng để phân tích là số lượng dự án bị phát hiện sai phạm, số tiền bị thất thoát, số cán bộ bị xử lý,...Từ đó, có những thống kê chi tiết để có các giải pháp ngăn ngừa rủi ro và sai phạm cho các dự án ĐTC.

VI. Kết Luận và Tương Lai Giám Sát Đầu Tư Công Việt Nam

Giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát là một nhiệm vụ cấp bách, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các cơ quan liên quan. Với những giải pháp được đề xuất và sự quyết tâm thực hiện, tin rằng hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội sẽ ngày càng hiệu quả, góp phần xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững, công bằng và minh bạch.

6.1. Tóm Tắt Các Giải Pháp Hoàn Thiện Giám Sát Đầu Tư Công

Luận án đã đề xuất một loạt các giải pháp đồng bộ, toàn diện nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam. Các giải pháp này tập trung vào hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao năng lực cho các đại biểu Quốc hội, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giám sát.

6.2. Triển Vọng và Định Hướng Giám Sát Đầu Tư Công Tương Lai

Trong tương lai, hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam cần tiếp tục được đổi mới và nâng cao hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới. Cần chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống giám sát dựa trên công nghệ thông tin, tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động giám sát và xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với công việc.

14/05/2025
Luận văn giám sát đầu tư công của quốc hội việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. 73 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. QUỐC HỘI VIỆT NAM VÀ CHỨC NĂNG GIÁM SÁT ĐTC. Quốc hội Việt Nam.

Chức năng giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ ĐTC CỦA VIỆT NAM. Quy mô ĐTC. Phân bổ, quản lý và sử dụng vốn ĐTC.

Đánh giá ĐTC của Việt Nam. THỰC TRẠNG GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. Giám sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐTC. Giám sát quá trình thực hiện ĐTC.

Giám sát thực hiện kết luận, kiến nghị sau khi giám sát ĐTC. Sử dụng các tiêu chí đánh giá giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam. Đ ÁNH GIÁ THỰC TRẠNG GIÁM SÁT ĐTC CỦA Q UỐC HỘI V IỆT N AM. Những kết quả đạt được.

Những hạn chế và nguyên nhân. 116 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2. 124 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. BỐI CẢNH KTXH VÀ QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030.

Bối cảnh KTXH mới ảnh hưởng đến giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Quan điểm về hoàn thiện giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Định hướng hoàn thiện giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM.

Nhóm giải pháp về giám sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐTC của Quốc hội. Nhóm giải pháp về giám sát quá trình thực hiện hoạt động ĐTC của Quốc hội. Nhóm giải pháp về giám sát thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát về ĐTC của Quốc hội. 153 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.

157 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CỦA NCS. 159 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 160 PHỤ LỤC 1: CƠ CẤU GDP THEO NGÀNH KINH TẾ. 167 PHỤ LỤC 2: PHIẾU ĐIỀU TRA.

168 vii DANH MỤC CÁC BẢNG, CÁC HÌNH Danh mục bảng Bảng 1.1: Thang đánh giá Likert .1: Vốn đầu tư toàn xã hội 2015-2019 .2: Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP giai đoạn 2015-2019 .3: ĐTC thực hiện theo ngành kinh tế (2015-2019) .4: Cơ cấu vốn ĐTC phân theo cấp quản lý .5: ĐTC và tăng trưởng kinh tế .6: Ý kiến của ĐBQH về kế hoạch ĐTC trung hạn 2016 - 2020 .7: Tổng quan về các dự án .8: Giám sát của Quốc hội với quản lý vốn ĐTC .9: Kết luận giám sát của Quốc hội về ĐTC. 106 Danh mục hình Hình 1.1: Mô tả hoạt động và kết quả thu được của hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội. Các tiểu ban trực thuộc Ủy ban Tài chính - Ngân sách .2: Hệ số ICOR Việt Nam giai đoạn 2015-2019 .3: Kế hoạch vốn ĐTC trung hạn 2016-2020 .4: Đánh giá sự phù hợp của giám sát của Quốc hội về chính sách, pháp luật liên quan đến ĐTC .5: Đánh giá về tính phù hợp, khả thi của các kiến nghị sau giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực ĐTC.6: Đánh giá việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát ĐTC (hiệu lực giám sát ĐTC) của Quốc hội .7: Đánh giá nội dung giám sát ĐTC của Quốc hội nên tập trung vào xem xét hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến ĐTC.8: Đánh giá nội dung giám sát ĐTC của Quốc hội nên tập trung vào việc xem xét quản lý vốn ĐTC .9: Đánh giá nội dung giám sát ĐTC của Quốc hội nên tập trung vào việc xem xét hiệu quả ĐTC .10: Đánh giá về tính kịp thời trong hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội .11: Đánh giá về mục tiêu của giám sát ĐTC của Quốc hội .12: Đánh giá về hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến ĐTC của Quốc hội sau giám sát .13: Những ảnh hưởng từ hoạt động giám sát sau khi Quốc hội tiến hành giám sát ĐTC .1: Nguyên tắc SMART trong xây dựng tiêu chí đánh giá giám sát ĐTC của Quốc hội .1: Giám sát quá trình nghiên cứu tiền khả thi dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành .2: Giám sát quá trình tiến hành thực hiện dự án tuyến đường sắt đô thị số 1 Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành - Suối Tiên. Tính cấp thiết của đề tài Luận án Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam đang được thúc đẩy mạnh mẽ.

ĐTC chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của toàn xã hội, có vai trò quan trọng quyết định quá trình đồng bộ và hiện đại hoá hạ tầng KTXH làm nền móng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đồng thời, tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và hiệu quả hơn cho đầu tư của khu vực tư nhân, khơi thông và thu hút hiệu quả nguồn lực của toàn xã hội cho đầu tư phát triển KTXH. ĐTC là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH. ĐTC có vai trò quan trọng hình thành, tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế; đồng thời, có vai trò quan trọng định hướng, hỗ trợ và thu hút đầu tư của khu vực tư nhân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từ đó, góp phần quan trọng hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Tuy vậy, vai trò tích cực của ĐTC chỉ được phát huy với những quyết sách đầu tư đúng đắn, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả.

Chính vì vậy, không ngừng hoàn thiện thể chế, hiệu lực và hiệu quả quản lý ĐTC; đặc biệt là hiệu lực và hiệu quả giám sát ĐTC của cơ quan quyền lực nhà nước luôn là vấn đề thời sự ở các quốc gia. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những tiến bộ toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Cải cách thể chế tiếp tục được triển khai để làm cơ sở cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, đảm bảo một xã hội công bằng và dân chủ, người dân ngày càng có vai trò thực chất hơn theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hoạt động của cơ quan dân cử đối với những vấn đề quan trọng của đất nước. Những cải cách trong Hiến pháp, luật NSNN, luật Tổ chức Quốc hội,… được thực hiện những năm gần đây đã tạo ra nền tảng pháp lý quan trọng nhằm đổi mới hoạt động của Quốc hội, tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc thực hiện các chức năng lập pháp, quyết định 2 những vấn đề quan trọng và giám sát hoạt động của các cơ quan.

Trong chức năng giám sát của Quốc hội thì giám sát ĐTC là một trong những hoạt động quan trọng nhất thể hiện qua nội dung, chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội. Việc giám sát của Quốc hội trong ĐTC đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển đổi nhằm đảm bảo sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, ĐTC chuyển mạnh sang đầu tư cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho sự nghiệp giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo và nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong ĐTC để tạo những bước đột phá phát triển đất nước. Đồng thời ĐTC còn là đòn bẩy, là “mối” thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác, thu hút các loại hình dịch vụ tư nhân tham ra, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Hoạt động giám sát ĐTC được coi là một nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan lập pháp. Thời gian gần đây, hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vưc ĐTC đã có một số đổi mới, tác động tích cực đối với việc ban hành chính sách và điều hành của Chính phủ, đưa lại nhiều lợi ích hơn cho cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, hoạt động này còn hạn chế về thể chế chính sách cũng như trong tổ chức triển khai thực hiện, từ đó cho thấy hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội cần được nghiên cứu hoàn thiện xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ những lý do trên đây, NCS quyết định chọn đề tài: “Giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sỹ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng.

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 2. Một số lý thuyết về lĩnh vực ĐTC 2. Quan điểm về ĐTC ĐTC là một trong những lĩnh vực được quan tâm không chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế thực tiễn mà nó còn nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới với những cách tiếp cận và giải quyết các 3 vấn đề khác nhau với những phương pháp nghiên cứu khác nhau được áp dụng cho mỗi nghiên cứu, cụ thể: Trong nghiên cứu “The role of public investment in social and economic development” của UNCTAD (2009) [88] chi giới hạn ĐTC trong phạm vi các khoản chi tiêu xây dựng cơ bản, tuy nhiên sẽ là thiếu sót nếu chỉ định nghĩa ĐTC như vậy. Bởi chi ĐTC còn bao gồm các khoản về duy tu sửa chữa, tái định cư, hỗ trợ đời sống của người dân tái định cư.

Khái niệm về ĐTC này được nhận định là thiếu sự toàn diện. ĐTC còn được định nghĩa trong nghiên cứu của IMF năm 2012, “Public Investment, Growth, and Debt Sustainability: Putting Together the Pieces”, quan điểm rằng ĐTC là các khoản chi tiêu của khu vực công, nhưng loại trừ các khoản chi hình thành tài sản cố định tại các doanh nghiệp nhà nước [76]. Cách định nghĩa này chưa thể hiện được một cách toàn diện ý nghĩa và vai trò mà ĐTC mang lại cho xã hội. Tiếp cận khái niệm ĐTC trên quan điểm về chủ sở hữu vốn, Luận án Tiến sỹ “Hiệu quả ĐTC tại Việt Nam” của Phạm Minh Hóa năm 2017 có định nghĩa rằng: “ĐTC là hoạt động đầu tư do Nhà nước chủ trì để thực hiện các chương trình, dự án phát triển KTXH trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và các nguồn lực khác” [21].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ