Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự. Chương 2: Pháp luật về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự. Chương 3: Thực trạng giám sát và giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự tại tỉnh Phú Thọ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁ T CỦ A CƠ QUAN DÂN CƢ̉ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt đô ̣ng tố tu ̣ng hin ̀ h sƣ ̣ 1. Khái niệm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự Trong điều kiện đổi mới, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước là yếu tố quan trọng bảo đảm bản chất của nhà nước - một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Giám sát và hoạt động giám sát là những phạm trù khoa học, khi đưa ra khái niệm còn có những cách hiểu khác nhau dựa trên cách tiếp cận và quan điểm khác nhau: Về mặt ngữ nghĩa, “giám sát” được giải thích là "theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ" [55, tr. Với nghĩa này, thuật ngữ giám sát gần nghĩa với thuật ngữ kiểm tra, trong đó, kiểm tra là "xem xét thực chất, thực tế" [55, tr.
- Tiếp cận dưới góc độ thực hiện quyền lực nhà nước, thì giám sát lấy đối tượng là việc thực thi quyền lực nhà nước, gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước. Giám sát "là sự theo dõi, kiểm tra đối với việc thực thi quyền lực nhà nước". Để đảm bảo quyền lực là thống nhất, việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định và cần thiết phải có sự giám sát việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Giám sát việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước bao gồm hoạt động giám sát của Nhà nước (của các cơ quan trong bộ máy nhà 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước) và giám sát xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng v.
Có ý kiến chỉ coi giám sát là một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi một việc nào đấy. Ý kiến khác lại quan niệm: giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo quy chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội "giám sát" được giải thích: Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Như vậy, tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ "giám sát" có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản của giám sát là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra một chủ thể nào đó về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc chưa đúng quy định đã được đặt ra để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, hướng tới mục đích, hiệu quả đã xác định trước, bảo đảm cho các quyết định thực hiện đúng và đầy đủ.
Từ quan niệm chung đó, có thể thấy giám sát đối với hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ là giám sát của các cơ quan nhà nước mà là giám sát của toàn bộ hệ thống chính trị, và, chỉ khi nào giám sát được thực hiện trong mối liên hệ mật thiết, hữu cơ với các bộ phận của toàn bộ hệ thống chính trị thì hoạt động giám sát đó mới có hiệu quả. Đồng thời, cũng chỉ ra mối 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ giữa giám sát của hệ thống cơ quan nhà nước và giám sát của xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước; đó là mối liên hệ biện chứng, thống nhất trong cơ chế giám sát thực hiện quyền lực nhà nước mà mỗi yếu tố, mỗi mắt xích trong cơ chế đó vận hành gắn kết với nhau nhằm mục đích nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc giám sát thực hiện quyền lực nhà nước có đối tượng giám sát là tất cả các lĩnh vực hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và căn cứ vào phạm vi hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước có thể phân chia thành những loại giám sát sau: i) Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân); ii) Giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; iii) Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp. Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định, đánh giá về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc không đúng với những điều đã quy định, quyết định.
Ở đây, chủ thể giám sát là cơ quan dân cử, bao gồm Quốc Hội/ Nghị viện đối với hoạt động TTHS. Quá trình giám sát thường trải qua hai bước: bước thứ nhất theo dõi, xem xét, kiểm tra và bước thứ hai, đánh giá, đưa ra kết luận về những nội dung giám sát. Trong đó, bước thứ nhất là cơ sở để thực hiện bước thứ hai, nếu theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát sẽ có hiệu quả và ngược lại. Giám sát cũng luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được câu hỏi giám sát ai? giám sát việc gì? Đặc điểm cơ bản này cho chúng ta phân biệt giữa giám sát và kiểm tra.
Bởi nói tới kiểm tra thì chủ thể hoạt động kiểm tra và đối tượng chịu sự tác động này có thể đồng nhất là một. Đó là trường hợp chủ thể tự kiểm tra hoạt động của mình, tức là tự xem xét đánh giá 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tình trạng tốt xấu của công việc đang làm để từ đó uốn nắn, sửa chữa. Nhưng trong hoạt động giám sát thì không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động quan sát chính hành vi của mình mà phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và xem xét của một chủ thể khác, từ đó đưa ra kết luận và xử lý. Khác với kiểm tra, thanh tra, nội dung hoạt động giám sát bao giờ cũng được báo trước cho đối tượng bị giám sát một thời gian nhất định.
Cũng có ý kiến cho rằng, trong cơ chế giám sát có cả việc tự giám sát tức là sự tự theo dõi, xem xét và kiểm tra chính mình có thực hiện đúng những điều đã quy định không. Với quan niệm như vậy e rằng không đúng, không phù hợp với bản chất của từ giám sát, bởi bên cạnh khái niệm giám sát còn có khái niệm kiểm tra. Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát. Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát.
Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát. Giám sát là hoạt động có tính mục đích. Trước hết, mục đích của giám sát là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu quả.
Như vậy, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn trong BMNN, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật về nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ. Như vâ ̣y có thể thấ y giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tụng hình sự hoàn toàn khác với hoạt động thanh tra, khác với hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát , hoạt động giám sát của c ác cơ quan tổ chức xã hô ̣i như Mă ̣t trâ ̣n tổ quố c và các thành viên của mă ̣t trâ ̣n. Giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự khác với thanh tra Thanh tra, do "thanh tra là kiểm tra , xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan xí nghiệp" [55, tr. Trong khoa học pháp lý, thanh tra là khái niệm chủ yếu được dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan, tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền và thanh tra được hiểu là: Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành [43].