Luận văn: Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại Krông Nô, Đắk Nông

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Krông Nô, Đắk Nông. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất chính sách hiệu quả.

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản Lý Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

120
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1.2. Chuẩn nghèo và các tiêu chí xác định chuẩn nghèo

1.2. Nội dung quản lý nhà nước về giảm nghèo

1.2.1. Hệ thông thể chế quản lý nhà nước về giảm nghèo

1.2.2. Kiện toàn bộ máy và nguồn nhân lực thực hiện giảm nghèo

1.2.3. Tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách, kế hoạch về giảm nghèo

1.2.4. Huy động và phân bổ nguồn lực tài chính thực hiện giảm nghèo

1.2.5. Xây dựng các mô hình giảm nghèo

1.2.6. Kiểm tra, thanh tra và xử lý trong hoạt động giảm nghèo

1.3. Các yếu tố tác động đến QLNN về giảm nghèo bền vững

1.3.1. Hệ thống chính sách pháp luật về giảm nghèo bền vững

1.3.2. Đặc điểm tự nhiên

1.3.3. Điều kiện kinh tế - Xã hội

1.3.4. Văn hóa, phong tục tập quán

1.4. Kinh nghiệm và bài học tham khảo

1.4.1. Kinh nghiệm về giảm nghèo bền vững tại 1 số địa phương

1.4.2. Bài học có giá trị tham khảo cho huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2. Thực trạng thực hiện quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

2.2.1. Về thể chế quản lý nhà nước về giảm nghèo

2.2.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực để thực hiện giảm nghèo bền vững

2.2.3. Thực trạng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch thực hiện giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số

2.2.4. Về huy động và phân bổ nguồn lực tài chính thực hiện giảm nghèo bền vững

2.2.5. Xây dựng mô hình giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

2.2.6. Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý trong hoạt động giảm nghèo

2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

2.3.1. Những kết quả đạt được

2.3.2. Những hạn chế

2.3.3. Nguyên nhân những hạn chế

2.4. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

3.1. Quan điểm, mục tiêu và phương hướng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

3.1.1. Quan điểm của Đảng về giảm nghèo bền vững

3.1.2. Mục tiêu và phương hướng của huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về giảm nghèo bền vững

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững huyện Krông Nô tỉnh Đắk Nông

3.2.1. Hoàn thiện thể chế về giảm nghèo bền vững

3.2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giảm nghèo

3.2.3. Xây dựng một số nguyên tắc, cơ chế hỗ trợ nguồn vốn giảm nghèo trên cơ sở tập quán và văn hóa cộng đồng

3.2.4. Tăng cường cơ chế phối hợp, lồng ghép nguồn vốn các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội, tập trung nguồn lực giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Krông Nô

3.2.5. Một số giải pháp thực hiện giảm nghèo đặc thù trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

3.3. Kiến nghị về thực hiện giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

3.3.1. Đối với chính phủ và các bộ nghành, trung ương

3.3.2. Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông

3.3.3. Đối với Uỷ ban nhân dân huyện Krông Nô

3.4. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá tiềm năng và thực trạng giảm nghèo bền vững ở Krông Nô Đắk Nông

Chủ trương giảm nghèo là một định hướng lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, luôn được tăng cường và hoàn thiện qua các giai đoạn phát triển. Hệ thống chính sách đã và đang đi vào cuộc sống, hỗ trợ người nghèo tiếp cận đầy đủ các nguồn lực trợ giúp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, Chính phủ vẫn ưu tiên bố trí kinh phí cho công tác giảm nghèo, đồng thời triển khai hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt tại các địa bàn khó khăn. Đây không chỉ là một chương trình mang tính nhân đạo mà còn là cầu nối củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự và công bằng xã hội.

Huyện Krông Nô, nằm ở phía Đông của tỉnh Đắk Nông, có tổng diện tích tự nhiên rộng lớn 81.379,33ha, bao gồm 12 đơn vị hành chính cấp xã. Vị trí địa lý chiến lược với các tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 28 và Tỉnh lộ 3, cùng với nhiều di tích và thắng cảnh nổi tiếng như thác Dray Sáp, khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, khu di tích lịch sử N’Trang Gưh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội. Huyện cũng sở hữu tiềm năng về thủy điện, điện mặt trời và phát triển du lịch bền vững Krông Nô, hứa hẹn trở thành một trong những hạt nhân phát triển của tỉnh.

Trong những năm qua, công tác giảm nghèo ở Krông Nô đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận nhờ sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, tỉ lệ hộ nghèo Krông Nô vẫn duy trì ở mức cao. Quá trình giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông chưa thực sự vững chắc, khi tỉ lệ hộ thoát nghèo nhưng có mức thu nhập sát chuẩn nghèo còn lớn, dẫn đến tỉ lệ tái nghèo hàng năm cao. Sự chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng và nhóm dân cư vẫn còn đáng kể, khiến đời sống của người nghèo, đặc biệt ở các xã đặc biệt khó khăn, tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức. Điều này đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững thực sự.

1.1. Bức tranh tổng quan về huyện Krông Nô Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Huyện Krông Nô tọa lạc ở phía Đông tỉnh Đắk Nông, có tổng diện tích tự nhiên 81.374,20 ha, được phân chia thành 12 đơn vị hành chính. Địa hình huyện đa dạng với ba dạng chính: núi cao (chiếm khoảng 51% diện tích) ở phía Tây và Nam; đồi núi thấp đến trung bình (khoảng 39%) tập trung ở phía Bắc và trung tâm; và dạng thung lũng (khoảng 10%) dọc theo sông Krông Nô và các suối lớn, tạo nên những cánh đồng màu mỡ. Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa cao nguyên, với hai mùa mưa và khô rõ rệt.

Trong giai đoạn 2011-2020, huyện đã đạt được nhiều thành quả tích cực trong phát triển kinh tế Krông Nô Đắk Nông. Kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, với tổng giá trị sản xuất đạt 9.510 tỷ đồng và thu nhập bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng vào năm 2020. Kết cấu cơ sở hạ tầng nông thôn Đắk Nông được quan tâm đầu tư, đáp ứng nhu cầu đi lại và sản xuất. Thương mại, dịch vụ, và phát triển du lịch bền vững Krông Nô cũng có những bước tiến đáng kể, góp phần cải thiện đời sống người dân.

1.2. Mục tiêu quốc gia và những bước tiến đầu tiên trong công cuộc giảm nghèo bền vững

Chương trình giảm nghèo luôn là trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm Luật, Nghị định, Thông tư, đã cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo sự thống nhất trong quản lý trên toàn quốc. Các địa phương, trong đó có Đắk Nông, đã cụ thể hóa thành các chương trình hành động và kế hoạch phù hợp với tình hình thực tiễn.

Tại Krông Nô, việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 đã được thực hiện thông qua nhiều nghị quyết và kế hoạch của UBND tỉnh. Nổi bật là Nghị quyết số 19/2012/NQ – HĐND, Nghị quyết số 04-NQ/TU, Nghị quyết số 56/2016/NQ-HĐND, và Kế hoạch số 369/KH – UBND. Những bước tiến này đã góp phần xây dựng và kiện toàn Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp tỉnh, tạo tiền đề cho việc thực hiện các giải pháp hỗ trợ hộ nghèo Krông Nô vươn lên, đặc biệt trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản và nguồn vốn sản xuất.

II. Vén màn thách thức Vì sao công tác giảm nghèo ở Krông Nô chưa thật sự bền vững

Công tác giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông đối mặt với nhiều rào cản khiến kết quả đạt được chưa thực sự như kỳ vọng. Mặc dù có những nỗ lực đáng kể, tỉ lệ hộ nghèo Krông Nô và tái nghèo vẫn còn cao, đặc biệt trong các nhóm dân cư dễ tổn thương. Sự chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn tồn tại, tạo ra những khoảng cách lớn trong tiếp cận cơ hội phát triển. Đời sống của người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở các xã đặc biệt khó khăn, nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và hạ tầng còn hạn chế. Những hạn chế này đặt ra câu hỏi về tính bền vững của các chương trình và chính sách đang được áp dụng.

Một trong những nguyên nhân chính là nguồn lực thực hiện chương trình giảm nghèo chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của địa phương. Các chương trình, chính sách giảm nghèo Đắk Nông đôi khi còn thiếu đồng bộ, mang tính ngắn hạn và chưa có sự gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu dài hạn. Cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, và phân công, phân cấp tại một số nơi còn chưa hợp lý, dẫn đến việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo chưa sâu sát. Sự phối hợp giữa các phòng, ban, đơn vị đôi lúc còn thiếu chặt chẽ, khiến việc lồng ghép các chương trình, dự án có cùng mục tiêu tác động đến công tác giảm nghèo trở nên lúng túng, chưa đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, một bộ phận người nghèo còn có tâm lý ỷ lại, chưa thực sự tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo, làm giảm hiệu quả của các chính sách hỗ trợ. Điều này đòi hỏi cần có sự thay đổi toàn diện trong cách tiếp cận và thực hiện để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững thực sự.

Ngoài những yếu tố nội tại, các tác động khách quan như biến đổi khí hậu Krông Nô, thiên tai, hạn hán và dịch bệnh cũng gây ra những khó khăn lớn cho phát triển kinh tế Krông Nô Đắk Nông và đời sống của người dân. Điều kiện địa lý không thuận lợi ở các vùng xa xôi, hẻo lánh, địa hình phức tạp khiến người nghèo dễ bị cô lập, khó tiếp cận các nguồn lực phát triển như tín dụng, khoa học kỹ thuật và thị trường. Sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng nông thôn Đắk Nông, chất lượng nguồn nhân lực thấp, cùng với những thách thức về văn hóa, phong tục tập quán cũng là những rào cản đáng kể đối với công cuộc giảm nghèo bền vững.

2.1. Phân tích nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng hộ nghèo và tái nghèo cao

Tình trạng hộ nghèo Krông Nô và tái nghèo cao có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan. Nguồn lực tài chính dành cho các chương trình giảm nghèo chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Nhiều chính sách giảm nghèo Đắk Nông còn mang tính ngắn hạn, thiếu tính liên kết và đồng bộ, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở một số địa phương còn lúng túng, thiếu sự chỉ đạo sâu sát và cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành chưa chặt chẽ. Việc lồng ghép các chương trình, dự án cũng gặp khó khăn, làm giảm hiệu quả tổng thể.

Một yếu tố đáng lưu ý là tâm lý ỷ lại của một bộ phận người dân nghèo, thiếu chủ động vươn lên. Bên cạnh đó, các yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu Krông Nô, thiên tai, hạn hán cũng tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, gây thiệt hại lớn cho hộ nghèo Krông Nô. Sự hạn chế về cơ sở hạ tầng nông thôn Đắk Nông, đặc biệt là giao thông, cũng làm giảm khả năng tiếp cận thị trường và các dịch vụ thiết yếu, cản trở quá trình thoát nghèo bền vững.

2.2. Các yếu tố khách quan và chủ quan cản trở hiệu quả chính sách giảm nghèo Đắk Nông

Nhiều yếu tố đã cản trở hiệu quả của chính sách giảm nghèo Đắk Nông. Về khách quan, vị trí địa lý không thuận lợi của một số khu vực hẻo lánh, địa hình phức tạp, và thiếu đường giao thông đã cô lập cộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô với các nguồn lực phát triển như tín dụng, khoa học kỹ thuật và thị trường. Biến đổi khí hậu Krông Nô, thiên tai, hạn hán, và dịch bệnh cũng thường xuyên ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống, đẩy các hộ cận nghèo dễ dàng rơi lại vào tình trạng nghèo đói.

Về chủ quan, chất lượng nguồn nhân lực làm công tác giảm nghèo còn thấp ở một số nơi, ảnh hưởng đến năng lực triển khai chính sách. Nhận thức của một bộ phận người dân về ý chí tự lực vươn lên còn hạn chế, dẫn đến sự phụ thuộc vào trợ cấp. Hơn nữa, việc chưa thực sự nâng cao năng lực cộng đồng trong việc tự quản lý và triển khai các dự án cũng là một rào cản. Các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán nếu không được nghiên cứu và lồng ghép phù hợp trong các giải pháp cũng có thể làm giảm hiệu quả của các chương trình giảm nghèo bền vững.

III. Bí quyết phát triển sinh kế bền vững Đắk Nông Trọng tâm nông nghiệp và đa dạng hóa kinh tế

Để đạt được mục tiêu sinh kế bền vững Đắk Nông, đặc biệt tại huyện Krông Nô, việc tập trung vào phát triển nông nghiệp Krông Nô theo hướng hiện đại và đa dạng hóa kinh tế là yếu tố then chốt. Huyện ủy và chính quyền đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các mục tiêu, giải pháp nhằm tranh thủ mọi nguồn lực, thúc đẩy kinh tế phát triển. Công tác xây dựng và quản lý quy hoạch được chú trọng, định hướng chung cho quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị và các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác. Nhờ đó, hầu hết các chỉ tiêu về kinh tế đã đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra, với tổng giá trị sản xuất tăng 1,8 lần so với đầu nhiệm kỳ và thu nhập bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng vào năm 2020. Những thành quả này là minh chứng cho hướng đi đúng đắn, tập trung vào khai thác tiềm năng sẵn có của địa phương.

Sản xuất nông nghiệp tại Krông Nô có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt. Huyện đã thực hiện hiệu quả Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cũng được triển khai tích cực, nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) tập trung vào các loại cây trồng chủ lực như lúa, ngô giống F1, cây ăn trái (bơ, cây có múi) và cà phê. Việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất, từ khâu làm đất đến thu hoạch, đã đẩy mạnh năng suất và giảm chi phí. Đồng thời, mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị được xây dựng, đưa giá trị sản xuất trên một hecta đất canh tác từ 62 triệu đồng năm 2015 lên 79 triệu đồng năm 2020. Các nỗ lực này góp phần quan trọng vào việc tạo ra sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo Krông Nô.

Ngoài nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ cũng ghi nhận sự tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế huyện. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt 2.000 tỷ đồng, tăng bình quân 19%/năm. Thương mại và dịch vụ cũng phát triển đa dạng, với 2.300 cơ sở đang hoạt động và giá trị đạt 2.496 tỷ đồng. Đặc biệt, phát triển du lịch bền vững Krông Nô được chú trọng, lượng khách du lịch ngày càng tăng, các cơ sở lưu trú và điểm vui chơi được đầu tư, bước đầu khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch gắn với Công viên địa chất toàn cầu Đắk Nông. Những yếu tố này tạo nên một bức tranh kinh tế đa chiều, là nền tảng vững chắc cho giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông.

3.1. Hướng dẫn tái cơ cấu ngành nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng Krông Nô

Việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp Krông Nô là một trọng tâm trong chiến lược giảm nghèo bền vững. Huyện đã áp dụng hiệu quả Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tập trung vào nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Theo Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy, huyện khuyến khích ứng dụng công nghệ cao, thực hành VietGAP trong sản xuất. Các loại cây trồng chủ lực như lúa, ngô giống F1, cây ăn trái (bơ, cây có múi) và cà phê được tái cơ cấu, đồng thời bảo tồn một số cây dược liệu quý.

Chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng Krông Nô đi kèm với việc ứng dụng cơ giới hóa vào các khâu sản xuất, từ làm đất đến thu hoạch, giúp tăng năng suất và giảm sức lao động. Các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị được đẩy mạnh, đảm bảo đầu ra ổn định cho nông sản. Nhờ đó, giá trị sản xuất trên một hecta đất canh tác tăng từ 62 triệu đồng năm 2015 lên 79 triệu đồng năm 2020, tạo ra nguồn thu nhập ổn định và sinh kế bền vững Đắk Nông cho người dân.

3.2. Cách thức phát triển du lịch bền vững Krông Nô và thị trường nông sản Đắk Nông

Để đa dạng hóa nguồn thu nhập và tạo ra sinh kế bền vững Đắk Nông, Krông Nô đang đẩy mạnh phát triển du lịch bền vững Krông Nô theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị. Huyện khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch từ các danh thắng như thác Dray Sáp, khu bảo tồn Nâm Nung và đặc biệt là gắn với Công viên địa chất toàn cầu Đắk Nông. Lượng khách du lịch bình quân đạt 80.000 lượt khách/năm, thúc đẩy đầu tư vào hạ tầng du lịch và các mô hình du lịch cộng đồng.

Song song đó, việc phát triển thị trường nông sản Đắk Nông được coi trọng. Huyện đã xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể lúa gạo Krông Nô và đang phát triển nhãn hiệu Bơ núi lửa Krông Nô, chỉ dẫn địa lý, tem truy xuất nguồn gốc. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã công nhận 04 sản phẩm đạt 3 sao. Những nỗ lực này không chỉ nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường mà còn tạo thêm cơ hội việc làm, góp phần giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông.

IV. Hướng dẫn xây dựng mô hình giảm nghèo hiệu quả ở Krông Nô Từ chính sách đến cộng đồng

Xây dựng các mô hình giảm nghèo hiệu quả Đắk Nông tại Krông Nô đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa các chính sách giảm nghèo Đắk Nông từ cấp nhà nước và sự tham gia chủ động của cộng đồng. Các giải pháp không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ tài chính mà còn phải tập trung vào phát triển năng lực nội tại cho người dân, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô. Huyện đã tích cực triển khai các chủ trương của Đảng và Nhà nước, như việc lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia với các dự án phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Việc phân công đảng viên, cán bộ xã, thôn phụ trách từng nhóm hộ gia đình nghèo, gắn kết quả giảm nghèo với kết quả phân loại đảng viên, chi bộ, đảng bộ là một minh chứng cho sự quyết liệt trong công tác quản lý.

Một trong những trụ cột của giảm nghèo bền vững là đầu tư vào con người thông qua đào tạo nghề Krông Nô và nâng cao năng lực. Các chương trình đào tạo nghề được tổ chức thường xuyên, giúp người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, có thêm kỹ năng sản xuất kinh doanh, tìm kiếm việc làm ổn định. Điển hình như tại huyện Tuy Đức, đã có gần 3.000 người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số được đào tạo nghề, với hơn 200 người đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Bên cạnh đó, hỗ trợ vốn vay cho hộ nghèo Đắk Nông từ ngân hàng chính sách và các nguồn tín dụng thương mại được ưu tiên, tạo điều kiện cho các hộ đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Chính sách này giúp hộ nghèo Krông Nô tiếp cận vốn dễ dàng hơn, từ đó phát triển sinh kế bền vững và thoát khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo.

Việc tăng cường an sinh xã hội Đắk Nông cũng là một giải pháp quan trọng, bao gồm hỗ trợ mua bảo hiểm y tế, giải quyết việc làm và trợ giúp kịp thời những đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, để các chính sách giảm nghèo thực sự phát huy hiệu quả, cần khắc phục tâm lý ỷ lại và khuyến khích tinh thần tự lực vươn lên của người dân. Công tác tuyên truyền, vận động phải phong phú về nội dung và cách thức, bao phủ rộng khắp để chủ trương, chính sách giảm nghèo bền vững nhanh chóng đi vào cuộc sống. Các hình thức tuyên truyền đa dạng như qua đài phát thanh, truyền hình, báo chí, các lớp tập huấn, hay các buổi họp thôn, làng đều đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cộng đồng và thay đổi nhận thức, góp phần xây dựng các mô hình giảm nghèo hiệu quảgiảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông.

4.1. Vai trò của đào tạo nghề Krông Nô và hỗ trợ vốn vay cho hộ nghèo Đắk Nông

Nền tảng của sinh kế bền vững Đắk Nông chính là khả năng tự chủ kinh tế của người dân. Đào tạo nghề Krông Nô đóng vai trò thiết yếu trong việc trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết cho hộ nghèo Krông Nôcộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô. Thông qua các khóa đào tạo sơ cấp, trung cấp, người lao động có cơ hội chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao năng suất và tìm kiếm việc làm ổn định. Kinh nghiệm từ huyện Tuy Đức cho thấy, việc đào tạo nghề đã giúp gần 3.000 người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số có việc làm, cải thiện đáng kể mức sống.

Bên cạnh đó, hỗ trợ vốn vay cho hộ nghèo Đắk Nông là đòn bẩy tài chính quan trọng. Ngân sách huyện bổ sung vào nguồn vốn vay của ngân hàng chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nghèo và cận nghèo tiếp cận tín dụng để phát triển sản xuất, chăn nuôi, mở dịch vụ. Việc này giúp họ có vốn để chuyển đổi cơ cấu cây trồng Krông Nô và đầu tư vào các mô hình giảm nghèo hiệu quả, từ đó tạo thu nhập ổn định và thoát nghèo bền vững.

4.2. Chính sách an sinh xã hội Đắk Nông và nâng cao năng lực cộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô

Để đảm bảo giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông, việc thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội Đắk Nông là không thể thiếu. Các chính sách này bao gồm đẩy mạnh giải quyết việc làm cho người dân nghèo, hỗ trợ mua bảo hiểm y tế (BHYT), và trợ giúp kịp thời các đối tượng gặp rủi ro hoặc yếu thế trong xã hội. Điều này giúp bảo vệ người nghèo khỏi những cú sốc kinh tế và sức khỏe, đồng thời tạo mạng lưới an toàn để họ có thể yên tâm đầu tư vào phát triển sản xuất.

Đặc biệt, việc nâng cao năng lực cộng đồng tại các vùng có cộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô là then chốt. Huyện cần xây dựng các nguyên tắc, cơ chế hỗ trợ nguồn vốn giảm nghèo trên cơ sở tập quán và văn hóa cộng đồng, tránh sự áp đặt. Tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia tích cực vào các chương trình giảm nghèo, khuyến khích tinh thần tự lực, chống lại tâm lý ỷ lại. Việc bố trí cán bộ chuyên trách và cộng tác viên giảm nghèo tại cấp xã cũng góp phần đưa chính sách giảm nghèo Đắk Nông đến gần hơn với người dân, xây dựng niềm tin và sự chủ động từ cơ sở.

V. Kết quả thực tiễn và bài học kinh nghiệm trong giảm nghèo bền vững ở Krông Nô

Công tác giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông đã đạt được những thành tựu nhất định trong những năm qua, thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội. Huyện đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, từ tái cơ cấu nông nghiệp đến đầu tư cơ sở hạ tầng, góp phần cải thiện đời sống người dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, và diện mạo nông thôn, đô thị có nhiều thay đổi tích cực. Các chương trình hỗ trợ vốn vay cho hộ nghèo Đắk Nông cùng với đào tạo nghề Krông Nô đã giúp nhiều hộ nghèo Krông Nô tiếp cận cơ hội phát triển sinh kế. Sự hình thành và phát triển của các hợp tác xã, tổ hợp tác trong cộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô cũng minh chứng cho hiệu quả của việc huy động nội lực và liên kết sản xuất.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảm nghèo vẫn còn đối mặt với nhiều hạn chế. Tỉ lệ tái nghèo và chênh lệch giàu - nghèo vẫn là những vấn đề nan giải. Nguồn lực thực hiện các chương trình còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, và một số chính sách giảm nghèo Đắk Nông chưa thực sự đồng bộ hoặc còn mang tính ngắn hạn. Việc quản lý, chỉ đạo và phối hợp giữa các cấp, ngành đôi khi còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả chưa cao trong việc lồng ghép các nguồn lực và dự án. Đặc biệt, tâm lý ỷ lại của một bộ phận người dân cũng là một rào cản lớn, đòi hỏi các giải pháp cần phải toàn diện hơn, không chỉ về kinh tế mà còn về nâng cao nhận thức và ý chí vươn lên.

Những bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút ra từ thực tiễn và các địa phương lân cận như Tuy Đức và Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Các huyện này đã thành công trong việc tăng cường hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số, và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Đắk Nông. Đặc biệt, việc phân công cán bộ phụ trách hộ nghèo, gắn kết quả giảm nghèo với công tác thi đua, khen thưởng đã tạo động lực mạnh mẽ. Đối với Krông Nô, việc học hỏi và áp dụng những mô hình giảm nghèo hiệu quả Đắk Nông này là cần thiết, đồng thời phải điều tra, khảo sát sâu sắc tình hình cụ thể của từng địa bàn, từng nhóm đối tượng để đưa ra các giải pháp phù hợp nhất, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả lâu dài.

5.1. Thành tựu nổi bật và hạn chế cần khắc phục trong quản lý nhà nước về giảm nghèo

Thành tựu trong quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông thể hiện qua việc ban hành các Nghị quyết, Kế hoạch cụ thể như Nghị quyết số 80/NQ-CP, Nghị quyết số 04-NQ/TU, Nghị quyết số 56/2016/NQ-HĐND, và Kế hoạch số 369/KH – UBND. Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác giảm nghèo, củng cố Ban chỉ đạo giảm nghèo và phân công nhiệm vụ rõ ràng. Kinh tế huyện có bước phát triển khá, hạ tầng giao thông và đô thị được đầu tư, phát triển nông nghiệp Krông Nô theo hướng công nghệ cao, cùng với đó là sự tăng trưởng của thương mại, dịch vụ, và phát triển du lịch bền vững Krông Nô.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế. Tỉ lệ hộ nghèo Krông Nô và tái nghèo vẫn cao. Nguồn lực tài chính còn hạn chế, chính sách giảm nghèo Đắk Nông chưa thực sự đồng bộ và thiếu tính liên kết. Cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành và phối hợp giữa các cấp, ngành chưa thực sự hiệu quả. Ngoài ra, tâm lý ỷ lại của một bộ phận người dân và tác động của biến đổi khí hậu Krông Nô cũng là những nguyên nhân chính cản trở quá trình giảm nghèo bền vững.

5.2. Các mô hình thành công tại địa phương và bài học giá trị cho Krông Nô

Kinh nghiệm từ huyện Tuy Đức và Đắk Song cung cấp những bài học giá trị cho Krông Nô. Huyện Tuy Đức đã đầu tư 65 tỷ đồng vào phát triển sản xuất, tạo việc làm, đào tạo nghề cho gần 3.000 người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng gần 2.900 nhà cho hộ nghèo, và cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn Đắk Nông (đường ô tô đến 100% xã, trạm y tế). Tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2-5% hàng năm. Huyện Đắk Song chú trọng huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, phân công đảng viên hỗ trợ từng nhóm hộ nghèo, và có chính sách thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật về địa phương.

Những bài học này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ làng nghề, xây dựng hạ tầng nông thôn, và hỗ trợ vốn vay cho hộ nghèo Đắk Nông dựa trên đề xuất của nhân dân. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách công bằng, minh bạch, kiểm tra giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn lực, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để nâng cao năng lực cộng đồng và khuyến khích ý chí vươn lên của người dân. Đây là những yếu tố cốt lõi để xây dựng mô hình giảm nghèo hiệu quả Đắk Nông và đạt được giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông.

VI. Định hướng chiến lược Con đường nào để giảm nghèo bền vững ở Krông Nô trong tương lai

Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông trong những năm tới, huyện cần xây dựng một định hướng chiến lược toàn diện, kết hợp hài hòa giữa các giải pháp về thể chế, nguồn nhân lực và sự tham gia của toàn xã hội. Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của huyện về giảm nghèo, cần tập trung các nguồn lực, thực hiện nhiều chính sách, giải pháp cụ thể. Mục tiêu không chỉ là giảm số lượng hộ nghèo Krông Nô mà còn là đảm bảo chất lượng cuộc sống, tạo ra sinh kế bền vững Đắk Nông và chống tái nghèo hiệu quả. Điều này đòi hỏi sự quyết tâm cao độ từ Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn huyện, cùng với việc khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế đã được nhận diện trong giai đoạn trước.

Một trong những giải pháp trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo. Việc xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với điều kiện địa phương sẽ là cơ sở vững chắc để tránh trùng lặp, chồng chéo trong các chính sách giảm nghèo Đắk Nông. Đồng thời, việc kiện toàn bộ máy và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giảm nghèo ở các cấp là hết sức cần thiết. Cán bộ cần được đào tạo chuyên sâu về quản lý, kỹ năng giao tiếp cộng đồng, và khả năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô. Sự chuyên nghiệp và tận tâm của đội ngũ cán bộ sẽ là yếu tố quyết định sự thành công của các mô hình giảm nghèo hiệu quả Đắk Nông.

Bên cạnh đó, việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội là không thể thiếu. Cần tăng cường cơ chế phối hợp, lồng ghép nguồn vốn của các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, tập trung nguồn lực cho công tác giảm nghèo bền vững. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách giảm nghèo phải phong phú về nội dung và cách thức, bao phủ rộng khắp để nâng cao nhận thức và khuyến khích ý chí tự lực vươn lên. Đồng thời, cần thường xuyên nghiên cứu, đánh giá, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện giảm nghèo, học tập những mô hình giảm nghèo hiệu quả từ các địa phương khác. Đảm bảo an sinh xã hội Đắk Nông, chú trọng giải quyết việc làm, hỗ trợ y tế giáo dục Krông Nô, và duy trì môi trường bền vững Krông Nô là những yếu tố cốt lõi để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững lâu dài.

6.1. Hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công tác giảm nghèo

Để công tác giảm nghèo bền vững ở Krông Nô, Đắk Nông đạt hiệu quả cao, việc hoàn thiện thể chế là ưu tiên hàng đầu. Điều này bao gồm việc rà soát, bổ sung và xây dựng các văn bản pháp luật, chính sách giảm nghèo Đắk Nông phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hóa của địa phương, đặc biệt là vùng có cộng đồng dân tộc thiểu số Krông Nô. Một hệ thống pháp luật đầy đủ và đồng bộ sẽ tránh được tình trạng trùng lặp, chồng chéo, đảm bảo tính thống nhất và hiệu lực trong quản lý nhà nước.

Song song đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giảm nghèo có năng lực và tâm huyết là cực kỳ quan trọng. Cần có các chương trình đào tạo nghề Krông Nô cho cán bộ về nghiệp vụ, kỹ năng quản lý dự án, và khả năng vận động quần chúng. Việc luân chuyển, điều động cán bộ cấp huyện về làm việc tại các xã nghèo, ưu tiên cán bộ nông nghiệp, sẽ giúp nâng cao hiệu quả triển khai các mô hình giảm nghèo hiệu quả Đắk Nông và nắm bắt sát sao tình hình cơ sở.

6.2. Phát huy sức mạnh tổng hợp và duy trì môi trường bền vững Krông Nô

Thực hiện giảm nghèo bền vững đòi hỏi sự phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân. Cần tăng cường cơ chế phối hợp, lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội, tập trung nguồn lực cho các khu vực khó khăn. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cũng rất quan trọng, kết hợp với nguồn vốn tín dụng chính sách để hỗ trợ vốn vay cho hộ nghèo Đắk Nông.

Bên cạnh đó, việc duy trì môi trường bền vững Krông Nô là yếu tố không thể tách rời khỏi mục tiêu giảm nghèo bền vững. Các chương trình phát triển nông nghiệp Krông Nôphát triển du lịch bền vững Krông Nô phải gắn liền với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu Krông Nô, và quản lý hiệu quả rác thải. Việc bảo vệ môi trường bền vững không chỉ đảm bảo nguồn lực cho hiện tại mà còn cho các thế hệ tương lai, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế Krông Nô Đắk Nông lâu dài và toàn diện.

27/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện krông nô tỉnh đắk nông

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn Giảm nghèo là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; trong những năm qua hệ thống giảm nghèo của nước ta ngày càng được tăng cường, hoàn thiện và hiệu quả hơn, người nghèo tiếp cận ngày càng đầy đủ hơn các chính sách trợ giúp của Nhà nước; một số chính sách đã đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả. Trong bối cảnh kinh tế đất nước còn khó khăn, Chính phủ vẫn chỉ đạo ưu tiên cho lĩnh vực giảm nghèo, đồng thời tiếp tục bố trí kinh phí để triển khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, ưu tiên đầu tư nguồn lực cho các địa bàn nghèo; ban hành một số chính sách an sinh xã hội để trợ giúp người nghèo khó khăn về đời sống. Các chương trình, chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh, sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đã tạo nguồn lực to lớn cùng với các nguồn lực của Chính phủ thực hiện có hiệu quả nhiều chương trình, chính sách giảm nghèo.

Có thể nói Chương trình giảm nghèo là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đã khơi dậy và làm phong phú thêm truyền thống nhân đạo của dân tộc ta. Cũng chính từ Chương trình này, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và đoàn thể nhân dân được củng cố, tình cảm trong cộng đồng dân cư được gắn bó sâu sắc hơn, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Huyện Krông Nô nằm phía Đông của tỉnh Đắk Nông, có tổng diện tích tự nhiên 81.379,33ha, được chia thành 12 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 11 xã và 01 thị trấn. Huyện Krông Nô có các tuyến giao thông quan trọng chạy qua trung tâm huyện như tuyến tỉnh lộ 4 nay là Quốc lộ 28 đoạn qua huyện dài 54,5 km, nối quốc lộ 14 với huyện và huyện Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng; tuyến tỉnh lộ 3 đi từ thị trấn Đắk Mil qua Quốc lộ 28, đoạn qua huyện dài 20 km đã được đầu tư nâng cấp; Có nhiều di tích, thắng cảnh nổi tiếng đã được biết đến như thác Dray Sáp, khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, khu căn cứ kháng chiến B4 - Liên tỉnh IV, khu di tích lịch sử 2 N’Trang Gưh.; có nhiều tiềm năng về thủy điện, điện mặt trời, du lịch,…đã và đang được khai thác.

Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để huyện phát triển nhanh nền kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một trong những hạt nhân về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong những năm qua, việc giảm nghèo ở huyện Krông Nô đã đạt được một số kết quả nhất định. Đảng bộ và chính quyền địa phương đã có nhiều chủ trương, chính sách và phương pháp nhưng thực tế còn nhiều hạn chế, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao. Quá trình giảm nghèo chưa thực sự bền vững, tỉ lệ hộ thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là các xã đặc biệt khó khăn của huyện.

Tình hình trên trước hết do nguồn lực thực hiện Chương trình chưa đáp ứng được nhu cầu. Một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát. Sự phối kết hợp giữa các phòng, ban, đơn vị để thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo có lúc còn thiếu chặt chẽ; việc lồng ghép các chương trình, dự án có cùng mục tiêu tác động đến công tác giảm nghèo còn lúng túng, thiếu đồng bộ nên hiệu quả chưa cao. Một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo.

Từ những nhận thức về công tác giảm nghèo và những yêu cầu đặt ra đối với vấn đề giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, tôi xin chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông” làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý công của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luậnvăn Năm 1999, Lê Du Phong và các cộng sự với tác phẩm Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và Miền núi phía Bắc nước ta hiện nay đã 3 phân tích nền KTTT và sự phân tầng kinh tế xã hội nói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng. Tác phẩm đã khái quát quá trình chuyển đổi sang KTTT và sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta, đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta và đưa ra một số giải pháp giảm sự phân hóa giàu nghèo trong nền KTTT ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Cùng vào năm 1999 tác giả Vũ Thị Ngọc Phùng cũng có nghiên cứu ‘Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” nói đến mối quan hệ tăng trưởng và CBXH trong PTKT qua đánh giá thực trạng các vấn đề tăng trưởng, CBXH và nghèo đói ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đồng thời đưa ra các giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tăng trưởng và CBXH trong phát triển kinh tế giai đoạn này.

Năm 2001 Lê Xuân Bá và các tác giả viết ở cuốn “Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” đã phân tích những nét rất cơ bản về vấn đề nghèo đói và giảm nghèo bền vững ở Việt Nam.Khái quát về nghèo đói trên thế giới và nêu lên thực trạng nghèo đói ở Việt Nam qua nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình và đưa ra định hướng giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Năm 2004 Nguyễn Duy Sơn đã có đề tài’’ Quyền phát triển của con ngừoi ở Viêt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”đã làm sáng tỏ quan niệm về quyền phát triển của con ngứoi dứoi chế độ chủ nghĩa xã hội từ đó đi sâu phân tích những đặc điểm cụ thể và vai trò thực hiện quyền phát triển của con ngừoi Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước đồng thời đưa ra một số yêu cầu cơ bản, giải pháp chủ yếu thực hiện quyền phát triển của con ngừoi trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Dựa trên quan điểm’’ phát huy yếu tố con ngừoi và lấy việc phục vụ con người làm mục đích con nhất của mọi hoạt động, coi nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò đối với sự phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản của việc phát triển nhanh và bền vững’’. Năm 2004 Hoàng Triều Hoa đã nghiên cứu đề tài ‘Xóa đói giảm nghèo ở Việt 4 Nam, thực trạng và giải pháp” ở đó tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo cũng như kinh nghiệm về lĩnh vực này của các nước trên thế giới. Phân tích thực trạng đói nghèo và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong tiến trình tăng trưởng kinh tế từ năm 1991 đến nay.

Đưa ra một số chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu, những thành tựu và thách thức của công tác xóa đói giảm nghèo. Đề xuất nhứng quan điểm và giải pháp tạo môi trường, hổ trợ điều tiết kinh tế xã hội, nhằm giải quyết tốt hơn tình trạng đói nghèo ở nước ta trong tình hình hiện nay” Năm 2005, Nguyễn Thị Hằng và Lê Duy Đồng đưa ra cuốn’’ Phân phối và phân hóa giàu nghèo sau 20 năm đổi mới” nêu khái quát về phân phối, phân hóa giàu nghèo và phân tầng xã hội ở nước ta đồng thời nêu lên những tác động của sự hình thành và phát triển KTTT, các thành phần kinh tế, hoạt động kinh tế đến quan hệ phân phối thu nhập giữa các bộ phận, tầng lớp xã hội và đời sống xã hội ở Việt Nam rồi đưa ra những quan điểm giải quyết vấn đề lao động, việc làm cho giai đoạn tiếp theo. Năm 2007, nghiên cứu có tựa đề’’ Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam- thành tựu, thách thức và giải pháp” của trung tâm thông tin và dự báo KT-XH quốc gia, đã đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội và công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam trong các năm qua đồng thời xác định mục tiêu và chi ra các giải pháp để giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo” Năm 2008 Lê Đức An đã nghiên cứu đề tài “ Xóa đói giảm nghèo ở khu vực duyên hải miền Trung” làm đề tài thạc sỹ luận văn của mình, ở đó tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề về lý luận chung về nghèo đói và kinh nghiệm thực tiễn về công tác xóa đói giảm nghèo ở một số địa phương ở nước ta trong thời gian qua.Phân tích thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh duyên hải miền Trung và chỉ ra những thành tựu đạt được, những hạn chế, tồn tại trong việc xóa đói giảm nghèo.Đồng thời đề ra những giải pháp xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo, cơ chế chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng, đảy mạnh công tác đào tạo, tấp huấn cho ngừoi nghèo đặc biệt là phụ nữ, ngừoi dân tộc về kiến thức, kỷ năng sản 5 xuất kinh doanh và chính sách cứu trợ xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo phù hợp với điều kiện ở khu vực duyên hải miền Trung. Năm 2008 tác giả Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung xuất bản cuốn “tác động của vốn con ngừoi đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam” đã nghiên cứu dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng để kiểm chứng các giải pháp giảm nghèo bền vững cho Việt Nam.

Do đi lên từ một nền lúa nước nghèo đói, nông nghiệp lạc hậu lại còn trải qua một thời gian dài của ba cuộc chiến tranh đồng thời thường xuyên gặp thiên tai bão lụt nên vấn đề nghèo đói ở Việt Nam luôn là mối quan tâm không chỉ của Đảng và nhà nước mà còn là của cộng đồng quốc tế, nhất là trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ