Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự 1. Sự cần thiết của thủ tục giám đốc thẩm, tái tẩm Trong hệ thống chính trị, chỉ Toà án có chức năng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Khi thực hiện chức trách của mình, nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN, thực hiện quyền tư pháp; TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [36]. Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, nơi biểu hiện tập trung nhất của quyền lực tư pháp, nhân danh quyền lực Nhà nước xem xét một cách công khai, đầy đủ, khách quan và toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình tố tụng cũng như kết quả của các hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa thông qua các thủ tục tố tụng luật định để đưa ra những phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay đưa ra quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có quyền lợi ích đối lập nhau [62, tr.264] Khi hiện chức năng của mình, hoạt động xét xử Tòa án phải tuân theo những quy định của pháp luật cả về luật nội dung và luật tố tụng để đưa ra những phán quyết vô tư, khách quan, công minh và đúng pháp luật. Các phán quyết đó của Tòa án được thể hiện trong các bản án và quyết định của Tòa án. Các bản án và quyết định này được Toà án tuyên nhân danh Nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước, thể hiện trực tiếp thái độ của Nhà nước đối với vụ án, quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của công dân và những chủ thể khác.
Bản án, quyết định của Tòa án luôn phải đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có những bản án được tuyên nhưng không 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đúng với bản chất sự việc, không đúng pháp luật vì nhiều nguyên nhân khác nhau; do vậy, việc xem xét lại các bản án, quyết định đó là điều cần thiết. Để đảm bảo tính chính xác trong hoạt động xét xử, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định trật tự xã hội, nước ta cũng như các nước Châu Âu lục địa mà điển hình là Pháp theo mô hình tố tụng thẩm xét đã đặt ra nguyên tắc đặc trưng là nguyên tắc hai cấp xét xử [6]. Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được đưa ra thi hành thì các bên đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
Toà án cấp trên có thẩm quyền phúc thẩm vụ án sẽ xét xử cả về tố tụng và nội dung vụ án đồng thời xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm đảm bảo cho quyết định của Tòa án đúng pháp luật, khắc phục được những sai lầm trong xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, không phải tất cả các bản án, quyết định của Tòa án dù đã qua hai cấp xét xử đều đảm bảo công bằng, đúng pháp luật, đúng với thực tế khách quan. Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng không đúng với bản chất sự việc cũng như pháp luật nếu đem ra thi hành sẽ không đảm bảo quyền, lợi ích đúng đắn cho đương sự. Do đó, pháp luật đã đặt ra chế định giám đốc thẩm và tái thẩm chính là để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng không đúng bản chất cũng như không đúng pháp luật, đây chính là một trong những giải pháp pháp luật nhằm đảm bảo tính hợp pháp và tính khả thi của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Để cho chắc chắn hơn trong việc áp dụng pháp luật, nhiều quốc gia đặt thêm một tòa án ở trên Tòa thượng thẩm để xét lại việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp dưới. Tòa này sẽ xem xét và quyết định bản án của Tòa án cấp dưới đã xử đúng hay sai; nếu sai thì Tòa giám đốc tuyên hủy án đã xử và cho xử lại và nếu đúng thì y án. Chính vì vậy mà Tòa giám đốc thẩm còn được gọi là Tòa phá án. Nhờ thẩm quyền giám đốc thẩm, Tòa phá án duy trì được sự áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn quốc [9, tr.269] Ở Việt Nam, thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tòa án lần đầu được quy định trong Luật tổ chức TAND năm 1960, được gọi là thủ tục giám đốc thẩm và chỉ có Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) mới có thẩm quyền giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp.
Kể từ khi Luật tổ chức TAND năm 1981 được ban hành đến nay, thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tách thành hai thủ tục giám đốc thẩm dân sự và tái thẩm dân sự. Mặt khác, ngoài TANDTC thì các Tòa án cấp tỉnh cũng có thẩm quyền giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị. Hiện nay, Luật tổ chức TAND năm 2014 có quy định thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm cho TAND cấp cao và TANDTC, bỏ thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp tỉnh [63, tr.302] Tranh chấp đất đai xuất hiện trong những tranh chấp dân sự được Bộ luật Tố tụng dân sự và tranh chấp trong lĩnh vực hành chính như các tranh chấp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng. được Luật Tố tụng hành chính điều chỉnh.
Theo đó, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về tranh chấp đất đai được áp dụng trong cả hai lĩnh vực nói trên. Tuy nhiên trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về những tranh chấp đất đai do Bộ luật Tố tụng dân sự điều chỉnh. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về tranh chấp đất đai được áp dụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chínhng dân sự được quy định cụ thể tại Chương XVIII, XIX của BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) 1. Khái niệm giám đốc thẩm dân sự Từ góc độ ngôn ngữ học, có nhiều quan niệm về “giám đốc thẩm”: theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học không có cụm từ “giám đốc thẩm” mà chỉ giải nghĩa từ “giám đốc” là “đôn đốc và giám sát” và “thẩm” là “xét kỹ” [71].
Theo Từ điển Pháp - Việt danh từ “cassation” có nghĩa là “sự phá án” [69]; còn từ điển Anh - Việt lại giải nghĩa danh từ “cassation” có nghĩa là “sự huỷ bỏ” [70]. Từ góc độ khoa học pháp lý, tại Việt Nam qua các thời kỳ cũng có nhiều quan niệm khác nhau về giám đốc thẩm: Theo đó, quan điểm thứ nhất được thể hiện trong cuốn Thuật ngữ pháp lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phổ thông xuất bản năm 1987: “Giám đốc thẩm dân sự là một giai đoạn tố tụng có mục đích kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật” [17, tr. Theo quan điểm này có thể hiểu rằng, giám đốc thẩm cũng là một giai đoạn tố tụng chứ không thể hiện là giai đoạn tố tụng đặc biệt. Việc bản án, quyết định của Tòa án như thế nào mới bị kiểm tra, xem xét không được đề cập đến.
Quan điểm thứ hai được nêu trong cuốn Từ điển luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa phát hành năm 1999 “giám đốc thẩm” được hiểu là: “Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lí vụ án” [60, tr. Quan điểm này không nêu rõ giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tụng và chỉ nhận định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là có vi phạm pháp luật mà không cho rằng những sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án cũng là căn cứ kháng nghị. Quan điểm thứ ba là của Ts. Trần Anh Tuấn: “Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có sai lầm của Toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ án hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” [64].
Quan điểm này cho rằng, căn cứ của kháng nghị giám đốc thẩm là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án và những sai lầm của Toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ án. Quan điểm thứ tư: “Thủ tục giám đốc thẩm là một trình tự đặc biệt của tố tụng tư pháp nhằm xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” [18]. Quan điểm này cho rằng giám đốc thẩm như là một trình tự của tố tụng tư pháp và căn cứ của giám đốc thẩm là kháng nghị của những người có thẩm quyền. Tuy nhiên, ở một số nước trên thế giới như Cộng hòa Pháp, Nhật Bản hay Trung Quốc cho rằng việc kháng nghị chỉ là mặt hình thức, thủ tục mà họ quy định kháng cáo của các đương sự mới là căn cứ để phát sinh thủ tục giám đốc thẩm [22].
Quan điểm thứ năm: Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm: “Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án” [61, tr.