Chương 1 LÝ LUẬN VE ÁP DỤNG PHAP LUẬT GIẢI QUYET CÁC VỤ ÁN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm ap dụng pháp luật Bất kỳ một nhà nước nào khi ra đời cũng đều sử dụng pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và thực hiện chức năng của nhà nước. Đề thực hiện chức năng nhà nước, nhà nước chủ yếu thực hiện ba hoạt động chính, đó là xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật.
Trong đó, thực hiện pháp luật là một trong những hoạt động rất quan trọng và không thê thiếu trong đời sống xã hội, là hoạt động nhằm hiện thực hóa nội dung của pháp luật đi vào thực tiễn đời sống. Do Nhà nước ban hành nhiều quy phạm pháp luật khác nhau dé quản lý xã hội, để điều chỉnh hành vi của các chủ thé pháp luật, sao cho hành vi đó phù hợp với lợi ích chung của nhà nước và xã hội. Vì có nhiều quy phạm pháp luật khác nhau nên cũng có nhiều hình thức thực hiện pháp luật khác nhau!, các hình thức đó là: - Tuan thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thê pháp luật kiềm chế không tiễn hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. - Thi hành (chấp hành) pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thé pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp ly của minh băng hành động tích cực - Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thê pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình.
- Áp dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tô chức cho các chủ thé pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đối, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thẻ. Việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật nêu trên chỉ có tính chất tương đối. Nếu như tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện được thì ADPL là hình thức thực hiện pháp luật chỉ dành cho các cơ quan nhà nước, tổ chức ! Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật — Truong Dai học Luật Hà Nội (2012) hoặc cá nhân có thẩm quyền. Các hình thức thực hiện pháp luật này luôn có sự đan xen, gan bó chặt chẽ với nhau, không biệt lập với nhau.
Cac chu thể thông thường phải cùng đồng thời tiến hành thực hiện các quy định pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, bởi pháp luật là một hệ thống, giữa các quy định pháp luật luôn có sự liên hệ, gan bó, rang buộc lẫn nhau nên không thực hiện quy định pháp luật này sẽ không thê thực hiện được các quy định pháp luật khác. Ví dụ: muốn áp dụng chính xác các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) thì phải tiễn hành trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS); muốn áp dụng chính xác các quy định của Bộ luật Hình sự thì phải tiến hành trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất, phần lớn các quy định của pháp luật được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thé có thẩm quyên. Vi vậy, hình thức ADPL cần phải được nghiên cứu toàn điện và sâu sắc hơn so với hình thức thực hiện pháp luật khác.
Theo Từ điển tiếng Việt, từ áp dụng có thé được hiểu là “đem ding trong thực tế điều đã nhận thức được”. Từ cách hiểu này, có thé hiểu ADPL là dem pháp luật ra dùng trong thực tế. Theo cách hiểu này ADPL có thé dùng dé chi tất cả các hình thức thực hiện pháp luật mà không phải là hình thức thực hiện pháp luật cụ thể. Đa số các nhà nghiên cứu coi ADPL là một hình thức thức hiện pháp luật, tuy nhiên cũng có nhà nghiên cứu lại coi ADPL đồng nghĩa với thực hiện pháp luật, tức bao gồm tat cả các hình thức thực hiện pháp luật.
Trên cơ sở tìm hiểu quan điểm khác nhau về ADPL, tác giả ủng hộ quan điểm coi ADPL là một hình thức của thực hiện pháp luật. Nghiên cứu ADPL có thé thay đặc điểm của ADPL mang đầy đủ các đặc điểm của thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời có những đặc điểm đặc thù, riêng biệt. Cụ thể: Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Pháp luật do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nên nó mang tính quyên lực nhà nước, thé hiện ý chí nhà nước trong quá trình điều chỉnh pháp luật. Nhờ có sự đảm bảo của Nhà nước nên pháp luật mới có sức mạnh bắt buộc đối với chủ thé có liên quan.
ADPL thực chat là quá trình đảm bảo cho quyền ? Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, tr.9 3 Những van đê lý luận cơ bản vê nhà nước và pháp luật, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị quôc gia (1995, tr.227) lực nhà nước có hiệu lực trên thực tế đối với các chủ thể trong những điều kiện cụ thể. ADPL chỉ được tiễn hành bởi các cơ quan nhà nước, các tô chức hoặc cá nhân có thầm quyên theo quy định của pháp luật. Phù hợp với nhiệm vụ, thâm quyền của mình, mỗi chủ thé chỉ được phép tiễn hành một số hoạt động ADPL nhất định. Đối với một số trường hợp, hoạt động ADPL có thé được tiến hành theo ý chí đơn phương của các chủ thé có thẩm quyên, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể bị ADPL.
ADPL có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. ADPL là quy trình đặc biệt của việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật có giá trị điều chỉnh trên thực tế. Do đó, dé tránh sự tùy tiện, hoạt động ADPL được pháp luật quy định chặt chẽ về hình thức, thủ tục, trình tự. Tùy thuộc vào từng lĩnh vực ADPL mà trình tự, thủ tục được xác lập cho phù hợp.
Vi như: TAND xét xử tội phạm phải tuân theo trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự phải tuân theo quy định của BLTTDS. Thi ba, ap dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh mang tính cá biệt, cụ thê đối với những quan hệ xã hội nhất định. ADPL là phương thức chuyên hóa những quy định chung được nêu ra trong các quy phạm pháp luật thành những quy định riêng, cá biệt, cụ thể. Thực chất, những khả năng ADPL là cụ thể hóa quyên, nghĩa vụ hoặc cá biệt hóa chế tài quy phạm pháp luật.
Nhờ có quá trình ADPL mà nhiều quy phạm pháp luật mới có điều kiện được thực thi hay có hiệu lực trên thực tế. Hơn nữa, về phía chủ thê nhờ có ADPL mới xác định được những giới hạn pháp lý cần thiết cả về nội dung của quyên, nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như trách nhiệm pháp lý có liên quan khi tham gia quan hệ pháp luật. Thư tu, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo (sự sáng tạo trong phạm vi quy định của pháp luật). Khi ADPL, chủ thể có thẩm quyền phải làm sáng tỏ cau thành pháp lý, chủ động phân tích, đánh giá các tinh huống có thé xảy ra dé tìm kiếm những khả năng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả cao.
Điều này, đòi hỏi các chủ thé sáng tạo tìm kiếm phương thức thực hiện để có kết quả theo ý muốn. Tính sáng tạo trong quá trình ADPL là một đòi hỏi thực tế nếu không sẽ không đảm bảo thời hiệu, thời hạn theo quy định pháp luật đặt ra. Hơn nữa, do khối lượng công việc cần giải quyết nhiều nên quá trình ADPL nếu thiếu di tính sáng tạo sẽ bị đồn lại hoặc dun day lẫn nhau giữa các chủ thé có thâm quyền. Từ các đặc điểm trên, có nhiều khái niệm ADPL được đưa ra.
Nguyễn Văn Động, Trường Đại học Luật Hà Nội thì “4p dung pháp luật là một hình thức hoạt động mang tính tổ chức — quyên lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyên hoặc cá nhân có thẩm quyên theo thủ tục, trình tự do pháp luật quy định, nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật hiện hành đối với cơ quan, tô chức, cá nhân cụ thể trong trường hợp cu thể”; Theo TS. Nguyễn Minh Đoan, Trường Dai học Luật Hà Nội trong Sách tham khảo “ “Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt nam”, NXB Chính trị Quốc gia thì “ Ap dựng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyên tổ chức cho các chủ thé pháp luật thực hiện những quy định cua pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định cua pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc cham dứt những quan hệ pháp luật cụ thé”. Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân thì: Ap dung pháp luật là hoạt động mang tinh quyên lực nhà nước, được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyên hoặc các tô chức xã hội được nhà nước ủy quyên, thông qua những trình tự thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với cá nhân, tổ chức cụ thể. Đây là khái niệm theo tác giả mang tính toàn diện, đầy đủ nhất và tác giả cũng đồng tình với khái niệm này.
Khái niệm xác định cha, me, con Xác định cha, me, con là van dé rất tế nhị và phức tạp. Việc xác định cha, mẹ cho con cũng như xác định con đối với cha mẹ không chỉ có ý nghĩa về mặt nhân thân mà nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ cấp dưỡng hay phân định di sản thừa kế của người chết dé lại.