phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 9 tiết. Chƣơng 1 VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. KHÁI QUÁT VỀ VIỆC LÀM VÀ VAI TRÒ CỦA GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. Khái quát về lao động, việc làm và thất nghiệp Lao động là một phạm trù kinh tế, một mặt lao động là quá trình tác động giữa con người với tự nhiên, trong quá trình đó con người cải biến những vật thể tự nhiên làm cho nó thích ứng với nhu cầu của mình, mặt khác lao động luôn luôn được tiến hành trong xã hội, vì vậy nó đòi hỏi những quan hệ nhất định giữa con người với con người trong quá trình tác động vào tự nhiên.
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những vật phẩm tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập nhiều đến phạm trù này trong các nghiên cứu của mình, theo C. Mác, lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kì hình thái kinh tế xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên, vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với giới tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người. các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.
Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với 6 giới tự nhiên là giới cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa. Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [30, tr. Hoạt động lao động của con người không những làm biến đổi giới tự nhiên tạo ra của cải, mà còn hoàn thiện, phát triển cả bản thân con người.
Trong quá trình ấy con người tích luỹ kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoàn thiện bản thân cả về thể lực và trí lực. Lao động là hoạt động bản chất nhất và là phẩm chất đặc biệt của con người, khác với hoạt động bản năng của loài vật. Mác viết: "Con nhện làm những động tác giống như động tác người thợ dệt và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn phải làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn. Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi" [32, tr.
Đặc trưng chủ yếu của lao động là sáng tạo ra giá trị và của cải cho phép đáp ứng nhu cầu của con người và những nhu cầu này phát triển vô hạn. Song, những nhu cầu này không chỉ thuộc lĩnh vực kinh tế, vật chất như: nhu cầu sinh tồn, phát triển, hưởng thụ về vật chất mà còn có các nhu cầu về tinh thần, nhu cầu hoạt động lao động. sản xuất vật chất càng phát triển thì càng đòi hỏi phải nâng cao nhân tố con người trong quá trình sản xuất, càng đòi hỏi ở con người chức năng sáng tạo và luôn đề ra cho lao động những yêu cầu mới cao hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Vậy nên, lao động bao giờ cũng là nhân tố đầu tiên, cơ bản, là điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội loài người.
Trong quá trình lao động sản xuất, người lao động luôn nắm giữ vị trí quan trọng hàng đầu. Họ 7 không những là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra những yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất xã hội. Trong một quốc gia, một vùng hay một địa phương cụ thể thì người lao động được thể hiện ở nguồn lao động hay còn gọi là nguồn nhân lực. Đó là tổng thể toàn bộ thể lực và trí lực của bộ phận dân cư của đất nước có khả năng về thể chất và tinh thần có thể sử dụng trong quá trình lao động.
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng hợp thành tiềm lực của đất nước. Những tiêu chuẩn cơ bản để xếp dân cư vào nguồn nhân lực là độ tuổi và tình trạng sức khoẻ. Ở Việt Nam, nguồn nhân lực bao gồm số người trong độ tuổi lao động theo Bộ Luật lao động quy định: Nam từ 15-60 tuổi, Nữ từ 15-55 tuổi có khả năng lao động. Tuy nhiên, không phải toàn bộ những người thuộc nguồn nhân lực đều tham gia sản xuất xã hội cả mà cần trừ đi (theo quy ước): những người không có khả năng lao động (chẳng hạn do tàn tật); những người nội trợ trong gia đình; học sinh sinh viên đang học; quân đội (do tính chất đặc thù của hoạt động quân sự).
Sau khi trừ đi khỏi nguồn nhân lực bốn bộ phận này số còn lại trong kinh tế gọi là lực lượng lao động. Lực lượng lao động được thống kê theo hai bộ phận, đó là: những người có việc làm và những người thất nghiệp, muốn làm việc, đang tìm việc làm trên thị trường lao động. Đặc trưng của nguồn nhân lực là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng, cụ thể: chỉ tiêu về số lượng, độ tuổi, trình độ học vấn, giới tính, số người đang đi học, số người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và sự phân bố theo ngành, theo lĩnh vực, lãnh thổ. Mức tăng nguồn nhân lực là sự chênh lệch giữa số dân cư đến độ tuổi lao động (15 tuổi) và số dân cư đến độ tuổi nghỉ hưu (nam 60, nữ 55 tuổi).
Để đánh giá nguồn nhân lực người ta thường dùng các chỉ tiêu về trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ quản lý, phong cách làm việc và sức khoẻ. Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho 8 đến nay lao động là phương tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong thực tiễn, không phải thiếu lao động mà là thiếu việc làm. Việc làm chỉ là cái vỏ xã hội, cái khung pháp lý mà trong đó lao động được diễn ra.
Trong xã hội có giai cấp thì xã hội chịu sự chi phối bởi lợi ích của giai cấp thống trị và hệ thống pháp luật dựa trên cơ sở lợi ích của giai cấp đó hoạch định. Do đó, lao động thuộc về nhu cầu vô hạn của con người như là một cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội, còn việc làm lại là phạm trù giới hạn và bị lợi ích giai cấp chi phối. Trong thực tiễn, vì lợi ích kinh tế những giai cấp nắm trong tay các vật chất của lao động (đối tượng lao động, tư liệu lao động) có thể thu hút nhanh chóng những khối lượng lớn sức lao động vào các quá trình sản xuất nhưng cũng vì lợi ích kinh tế của giai cấp họ sẵn sàng sa thải hàng loạt người lao động, nên việc làm của xã hội bị thu hẹp. Bởi lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động, quá trình đó chỉ có thể diễn ra khi đã được giả định những tiền đề vật chất cho quá trình đó đã đầy đủ.
Trên bình diện một quốc gia cụ thể thì quá trình lao động sản xuất (việc làm) của bộ phận dân cư có sức lao động lại được giả định trên cơ sở số lượng việc làm. Do đó, việc làm không chỉ diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên mà cả mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, trong đó liên quan đến các lợi ích kinh tế và pháp luật khi tạo lập đầy đủ các yếu tố vật chất để quá trình làm việc diễn ra. Việc làm là một trong những vấn đề có ý nghĩa kinh tế, xã hội, chính trị rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế như Việt Nam. Ở Việt Nam trước đây (trước 1980), nền kinh tế vận động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Trong cơ chế này chúng ta thường quan niệm người lao động được coi là có việc làm 9 và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước đến nay, quan niệm về việc làm đã có sự thay đổi một cách căn bản. Theo điều 13 chương II của Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: " Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [9, tr. Theo quy định này việc làm bao gồm hai yếu tố: lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm.
Như vậy, quan niệm mới về việc làm được quy định trong Bộ Luật lao động đã xoá bỏ quan niệm cũ về việc làm khi cho rằng việc làm chỉ có trong khu vực nhà nước, xoá bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tạo nhiều việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, quan niệm mới về việc làm còn thể hiện rõ đặc trưng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam ở chỗ: cho phép công dân Việt Nam được làm những việc mà pháp luật không cấm. Ví dụ: nghề giúp việc gia đình, nghề thu gom rác thải phế liệu. là những nghề mà trước đây chưa được xã hội tôn trọng và thừa nhận, thì nay đã trở thành việc làm đáng được khuyến khích và được pháp luật bảo vệ.
Ngược lại, Bộ Luật lao động cũng quy định rõ mọi công dân không được làm những việc mà pháp luật cấm như: buôn lậu, mãi dâm, buôn bán ma tuý, vũ khí. Với quan niệm việc làm như vậy sẽ làm cho nội dung của việc làm được mở rộng tạo tiền đề để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời ngăn chặn những việc làm phi pháp nảy sinh trong điều kiện kinh tế mở.