CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG 1.1 VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG 1.1 Việc làm cho lao động - Khái niệm về việc làm Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm, tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có khái niệm khác nhau về việc làm. Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả bằng tiền hoặc hiện vật. Vậy theo khái niệm trên, thì những người lao động mà dùng sức lao động của mình để có được nguồn thu nhập nào đó thì khi đó là có việc làm. Hiện nay, khái niệm về việc làm theo Luật lao động nước ta ban hành đó là: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
[4] Việc tạo việc làm cho lao động, điều đó được Nhà nước khuyến khích nhưng vẫn phải nằm trong quy định pháp luật trong Bộ lao động về thời gian làm việc, điều kiện làm việc, lương thưởng của người lao động. Như vậy, việc làm được có thể hiểu như sau: - Làm những công việc mà lao động nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó. Đây là những người lao động làm thuê trong các cơ sở kinh tế cá thể trong các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị, lao động sẽ nhận được tiền lương, tiền công hàng tháng nhận được. Vì vậy, để có việc làm trước hết là cần hai yếu tố sức lao động và những Luan van 6 điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả những yếu tố xã hội.
- Thị trường việc làm đã được mở rộng ra rất nhiều bao gồm tất cả các thành phần kinh tế như các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, các hộ gia đình cá thể đều là những tổ chức, cơ quan đơn vị tạo thêm được nhiều việc làm hơn cho người lao động. Có nghĩa là thị trường lao động không bó hẹp ở một số khu vực hay ở một vùng nào đó mà nó bao gồm mọi miền, mọi vùng trong và ngoài nước, nó không bị hạn chế về không gian địa lý. - Chủ lao động có nhu cầu thuê lao động được tự do hành nghề, tự do kinh doanh liên kết với nhau. Từ đó, có sự phát sinh mối quan hệ trao đổi, thuyên chuyển lao động sao cho phù hợp với tính chất cũng như mục đích của công việc, đáp ứng quan hệ cung cầu lao động trong xã hội.
Như vậy có thể hiểu việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó. Tóm lại, có thể hiểu việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó. Với quan niệm việc làm trên theo cách của Luật lao động nước ta là phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, tạo điều kiện mọi người tham gia lao động việc làm để cải thiện cuộc sống, đưa đất nước ngày càng giàu mạnh. - Khái niệm thất nghiệp Thực hiện việc làm đầy đủ, tiến tới việc làm được lựa chọn cho lao động là một quá trình phát triển lâu dài.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tất yếu tồn tại vấn đề thất nghiệp. Thất nghiệp chỉ tình trạng không có việc làm mang lại thu nhập. Bộ luật lao động sữa đổi và bổ sung của Việt Nam năm 2002 quy định: “ Thất Luan van 7 nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Một người được coi là thất nghiệp nếu người đó tạm thời nghỉ việc, đang tìm việc hoặc đang đợi ngày bắt đầu làm việc mới.
Người không thuộc hai loại trên, chẳng hạn sinh viên học dài hạn, người nội trợ hoặc người nghỉ hưu không nằm trong lực lượng lao động. Vấn đề thất nghiệp không chỉ là mối quan tâm của các thành viên trong xã hội mà còn là mối quan tâm của một chính phủ. Tỷ lệ thất nghiệp là một trong các chỉ tiêu đánh giá tình trạng của một nền kinh tế. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách quan.
Người ta chỉ có thể giảm tỷ lệ thất nghiệp tới mức thất nghiệp tự nhiên chứ không xóa bỏ được nó.[9] Như vậy với khái niệm trên, một lao động được gọi là thất nghiệp gồm 3 tiêu chuẩn sau: + Có khả năng lao động: Đó là những lao động nằm trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên đến 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ. Ngoài ra, họ còn có đảm bảo yếu tố tình trạng sức khoẻ trình độ chuyên môn để có được việc làm theo tuyển dụng nhất định. + Không có việc làm: Điều kiện thứ hai đã phản ánh trực tiếp tới người lao động hiện không có việc làm. Theo quan niệm trên, với thời gian là trong 4 tuần trước khi điều tra mà không có việc làm hoặc tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ trước 1 tuần điều tra khi khi đó coi là thất nghiệp.
+ Đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc Tiêu chí thất nghiệp là tiêu chí mang tính tuyệt đối, phản ánh rất cụ thể và chính xác là đã có biêu nhiêu người đã có việc làm. Tuy nhiên, với tiêu chí này chưa thể nói hết được tình hình giải quyết việc làm trong địa phương. Bởi lẽ, để đánh giá hết được thực trạng giải quyết việc làm thì còn phụ thuộc vào Luan van 8 tổng số lao động trong độ tuổi lao động là bao nhiêu, mà trong số đó đã có bao nhiêu người đã giải quyết được có việc làm. Khi đó mới có thể thấy được một cách chi tiết hơn về thực trạng tạo việc làm cho người lao động.
Đó chính là tiêu chí tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lực lượng lao động trong kỳ, được biểu thị bằng tỷ lệ %. Giải quyết việc làm cho lao động Khái niệm giải quyết việc làm Theo nghĩa rộng: Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động và làm việc. Theo nghĩa hẹp: Giải quyết việc làm là biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo việc làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất.
NỘI DUNG, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG 1. Hướng nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho lao động Hướng nghiệp là giúp cho người học chọn những ngành học, trình độ đào tạo phù hợp; chủ động, sáng tạo trong học tập, am hiểu về ngành, nghề đang học để phát huy được năng lực nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Giúp người học có thông tin về thị trường lao động và tìm được việc làm phù hợp. Tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở giáo dục với đơn vị sử dụng lao động để đào tạo của nhà trường tiếp cận với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Tổ chức câu lạc bộ hướng nghiệp, giao lưu với đơn vị sử dụng lao động, giúp người học bổ sung kiến thức thực tế và các kỹ năng cần thiết để Luan van 9 hoà nhập với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp [5]. Đào tạo nghề là nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển nguồn nhân lực, dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho thời kỳ CNH-HĐH. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn đào tạo từ xa, đào tạo mở rộng, đào tạo lại…nhằm trang bị cho người học những kỹ năng cần thiết trước khi tốt nghiệp. Quan trọng là đào tạo những nghề phù hợp với nhu cầu thị trường.
[10] Hoạt động giới thiệu việc làm: Thực hiện việc tư vấn cho người lao động về chính sách lao động, cung cấp thông tin về việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động; làm chiếc cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động. Hoạt động giới thiệu việc làm có thể thực hiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm, tổ chức chợ việc làm… mở rộng các giao dịch việc làm là cơ hội để người lao động tìm được việc làm và đem cơ hội việc làm đến cho người lao động. Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm: Số lượng lao động được tư vấn hướng nghiệp; Số lao động được đào tạo nghề, cơ cấu ngành nghề đào tạo; Số lao động được giới thiệu quyết việc làm; Số lao động có việc làm thông qua đào tạo nghề; Số lao động có việc làm thông qua giới thiệu việc làm. Phát triển sản xuất giải quyết việc làm cho lao động trong nông nghiệp Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng để vừa tạo thêm việc làm, vừa khai thác được tốt hơn tiềm năng của mỗi vùng.
Việc phát triển kinh tế tại các vùng kinh tế mới có khả năng tiếp nhận hàng chục vạn người đến xây dựng các vùng kinh tế mới. - Đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình và đa dạng hóa các hoạt động kinh tế nông thôn. Việc khẳng định vai trò kinh tế hộ gia đình sẽ tạo điều kiện sử Luan van 10 dụng có hiệu quả hơn lao động nông nghiệp. Nền nông nghiệp đang chuyển dần từ tự cấp, tự túc thành nông lâm nghiệp hàng hóa, thâm canh và chuyên canh.
Các ngành nghề thủ công truyền thống, các hoạt động dịch vụ ở nông thôn được khôi phục và phát triển do đó, lao động thuần nông ngày càng giảm đi. Nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa hóa nông thôn, nhờ vậy vấn đề việc làm ở nông thôn sẽ được giải quyết vững chắc hơn. - Phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, trong đó các hoạt động công nghiệp và dịch vụ có quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh, sử dụng kỹ thuật tinh xảo và cần nhiều lao động, có khả năng tạo nhiều việc làm mới cho lao động.