Luận Văn Thạc Sĩ Về Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Dôi Dư Do Đổi Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư trong quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

86
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm trên thế giới và theo pháp luật Việt Nam

1.1.1. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)

1.1.2. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm theo pháp luật Việt Nam

1.2. Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.2.1. Việc làm trong nền kinh tế thị trường

1.2.2. Giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

1.3. Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động

1.3.1. Pháp luật lao động về việc làm

1.3.2. Chính sách giải quyết việc làm cho người lao động theo quy định của pháp luật lao động

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÔI DƯ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1. Quá trình đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và tác động của nó tới lao động dôi dư

2.1.1. Sự cần thiết phải đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay

2.1.2. Những tác động của việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đến vấn đề lao động dôi dư

2.2. Thực trạng chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

2.2.1. Các chính sách đối với người lao động trong giai đoạn trước khi ban hành Nghị định số 110/NĐ-CP ngày 26 tháng 06 năm 2007

2.2.2. Giai đoạn từ 2002 đến hết 25/9/2007

2.2.3. Chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư trong giai đoạn hiện nay

2.2.3.1. Phạm vi áp dụng chính sách pháp luật cho lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước
2.2.3.2. Đối tượng áp dụng chính sách, pháp luật cho lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước
2.2.3.3. Chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn
2.2.3.4. Chính sách, pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng

2.2.4. Tình hình giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng lao động dôi dư thông qua các quỹ hỗ trợ

2.2.5. Kết quả của chính sách pháp luật giải quyết việc làm cho lao động dôi dư và những tồn tại khó khăn cần khắc phục

2.2.5.1. Kết quả chính sách pháp luật nhằm giải quyết việc làm cho lao động dôi dư
2.2.5.2. Một số tồn tại, khó khăn trong công tác giải quyết việc làm cho lao động dôi dư trong giai đoạn hiện nay

3. CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG DÔI DƯ TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Định hướng cải cách doanh nghiệp Nhà nước và mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động dôi dư trong giai đoạn hiện nay

3.2. Kiến nghị một số giải pháp về chính sách, pháp luật nhằm giải quyết việc làm có hiệu quả cho lao động dôi dư trong thời gian tới

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Dôi Dư

Giải quyết việc làm cho lao động dôi dư trong doanh nghiệp nhà nước là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp. Việc này không chỉ giúp ổn định đời sống cho người lao động mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Chính sách việc làm cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường lao động và khả năng của người lao động.

1.1. Khái Niệm Về Lao Động Dôi Dư

Lao động dôi dư là tình trạng mà số lượng lao động vượt quá nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này thường xảy ra trong bối cảnh doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện tái cơ cấu và giảm biên chế. Việc hiểu rõ khái niệm này giúp xây dựng các chính sách phù hợp để giải quyết vấn đề.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Giải Quyết Việc Làm

Giải quyết việc làm cho lao động dôi dư không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Việc làm ổn định giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế. Chính sách việc làm cần phải linh hoạt và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.

II. Thách Thức Trong Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Dôi Dư

Trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, nhiều thách thức đã xuất hiện trong việc giải quyết việc làm cho lao động dôi dư. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt kỹ năng, sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động và sự thiếu đồng bộ trong chính sách.

2.1. Thiếu Kỹ Năng Và Đào Tạo Nghề

Nhiều lao động dôi dư không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hiện tại do thiếu kỹ năng và trình độ chuyên môn. Việc đào tạo nghề cần được chú trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh của lao động.

2.2. Biến Động Thị Trường Lao Động

Thị trường lao động đang thay đổi nhanh chóng với sự xuất hiện của công nghệ mới và các mô hình kinh doanh mới. Điều này tạo ra áp lực lớn đối với lao động dôi dư trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp.

III. Phương Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Dôi Dư

Để giải quyết vấn đề lao động dôi dư, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả như đào tạo lại, hỗ trợ tìm kiếm việc làm và phát triển các chính sách hỗ trợ. Những phương pháp này cần được thực hiện đồng bộ và có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

3.1. Đào Tạo Lại Và Nâng Cao Kỹ Năng

Đào tạo lại là một trong những giải pháp quan trọng nhất để giúp lao động dôi dư có thể tìm được việc làm mới. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.

3.2. Hỗ Trợ Tìm Kiếm Việc Làm

Cần có các chương trình hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho lao động dôi dư, bao gồm tư vấn nghề nghiệp, kết nối với nhà tuyển dụng và cung cấp thông tin về thị trường lao động.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Các chính sách và phương pháp giải quyết việc làm cho lao động dôi dư đã được áp dụng tại nhiều doanh nghiệp nhà nước và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả.

4.1. Kết Quả Thực Hiện Chính Sách

Nhiều lao động dôi dư đã được đào tạo lại và tìm được việc làm mới, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lao động chưa tìm được việc làm ổn định.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm

Các bài học từ thực tiễn cho thấy rằng việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp là rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề lao động dôi dư. Cần có sự đồng bộ trong các chính sách để đạt được hiệu quả cao nhất.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Giải Quyết Việc Làm

Giải quyết việc làm cho lao động dôi dư là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các chính sách để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

5.1. Định Hướng Tương Lai

Trong tương lai, cần có các chính sách linh hoạt hơn để đáp ứng nhanh chóng với sự thay đổi của thị trường lao động. Việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề sẽ là chìa khóa để giải quyết vấn đề lao động dôi dư.

5.2. Vai Trò Của Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp cần chủ động trong việc tạo ra việc làm và hỗ trợ lao động dôi dư. Sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà nước sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về giải quyết việc làm cho lao động dôi dư do đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUAN NIỆM VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. QUAN NIỆM VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRÊN THẾ GIỚI VÀ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organazation- ILO) được thành lập vào năm 1919 với mục tiêu chống thất nghiệp và bảo đảm tiền lương đủ để duy trì cuộc sống cho người lao động trên toàn thế giới. Vấn đề việc làm và chống nạn thất nghiệp là các nội dung chính và quan trọng trong các diễn đàn và chương trình nghị sự của tổ chức này được tổ chức hàng năm trên toàn thế giới.

Năm 1976 được đánh dấu là năm có sự kiện quan trọng của Tổ chức Lao động Quốc tế về việc đã tổ chức thành công "Hội nghị về việc làm quốc tế" và thông qua bản tuyên ngôn về các nguyên tắc và chương trình hành động nhằm loại trừ nghèo khổ, phát triển việc làm đầy đủ, có hiệu quả, thỏa mãn nhu cầu cuộc sống cho người lao động. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Các công ước của ILO về mặt pháp lý có tính chất khuyến nghị về các chính sách việc làm, thất nghiệp, cũng như điều kiện lao động cho các quốc gia tham gia công ước. Ngoài ra, nó còn có tính chất định hướng cho các quốc gia 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong việc xây dựng các quy định của pháp luật lao động về vấn đề việc làm và lựa chọn việc làm.

Trong thời gian vừa qua, ILO đã thể hiện được các tác động tích cực trong việc kêu gọi các nước thành viên khi giải quyết việc làm phải hướng tới các cấp độ hiệu quả khác nhau như Công ước số 122, năm 1964 về chính sách việc làm, ILO kêu gọi các quốc gia thành viên khi giải quyết việc làm thì phải hướng tới các cấp độ hiệu quả khác nhau: việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và tự do lựa chọn việc làm. Theo Công ước này: + Việc làm đầy đủ là sự thỏa mãn nhu cầu tìm việc làm của những người có khả năng lao động trong xã hội, là sự giải quyết về mặt số lượng; + Việc làm hiệu quả là việc làm phù hợp với nguyện vọng, trình độ, khả năng của người lao động được tự do lựa chọn việc làm, là khả năng mà người lao động cống hiến được nhiều nhất năng lực của mình đem lại hiệu quả cao nhất và tự do lựa chọn việc làm với thời gian và điều kiện làm việc phù hợp nhất. Tự do lựa chọn việc làm là giai đoạn phát triển cao nhất của chính sách việc làm ở mỗi quốc gia và là mục tiêu mà các quốc gia và Chính phủ của các quốc gia hướng tới. ILO còn đưa ra khái niệm "việc làm nhân văn" được xuất phát từ việc đấu tranh cho sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới về vấn đề việc làm, nhằm tạo sự bình đẳng về việc làm và mang lại chất lượng việc làm cao hơn.

Khái niệm "việc làm nhân văn" là khá mới mẻ và là khái niệm chứa đựng nhiều giá trị tốt đẹp cho việc ra các quyết định, chính sách về việc làm của ILO và các quốc gia trong những năm gần đây, là một bước tiến lớn và đánh dấu sự thay đổi to lớn về nhận thức của loài người về vấn đề việc làm. Các đại biểu ở cuộc họp khu vực châu Á lần thứ 13 của ILO tổ chức tại Bangkok năm 2001 đã công nhận tầm quan trọng của việc làm nhân văn trong cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động trong khu vực và hỗ trợ phát triển kinh tế của các nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hội nghị đã khuyến nghị các nước 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành viên xây dựng chương trình hành động quốc gia về Việc làm nhân văn thông qua cơ chế ba bên với 4 cấu phần là quyền tại nơi làm việc, cơ hội có việc làm chất lượng, bảo đảm xã hội và đối thoại xã hội. Các quốc gia khác nhau trên thế giới đều coi trọng vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động và là vấn đề có tính chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội.

Ở một số quốc gia, nếu một chính trị gia muốn thắng cử trong các cuộc vận động tranh cử bao giờ họ cũng phải đưa ra được vấn đề giải quyết việc làm trong chương trình hoạt động tranh cử. Các tổng thống Mỹ muốn được tái đắc cử bao giờ cũng phải nêu ra được các biện pháp giải quyết việc làm, chính sách lao động và tiền lương cũng như điều kiện làm việc tốt hơn trước kia cho người lao động. ILO cũng đã thông qua nhiều Công ước và khuyến nghị nhằm giải quyết tốt hơn việc làm cho người lao động. Điển hình là Công ước số 88 và Khuyến nghị số 83 đã quy định về những tiêu chuẩn, chức năng và việc tổ chức các trung tâm dịch vụ việc làm ở các quốc gia.

Về chính sách việc làm đã có Công ước số 122, về hoạt động xúc tiến việc làm và bảo vệ thất nghiệp có Công ước số 163 v. Như vậy, cho đến thời điểm này, quốc tế và từng quốc gia đã xác định được vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề cơ bản trong đời sống kinh tế - xã hội, mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu cơ bản và hướng tới của các quốc gia. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm theo pháp luật Việt Nam Khái niệm việc làm theo pháp luật nước ta được nhìn nhận khác nhau qua các giai đoạn của nền kinh tế đất nước. Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung trước đây, mục tiêu của chúng ta là xây dựng xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, trong xã hội chỉ duy trì hai hình thức sở hữu căn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.

Mọi người đều có việc làm, Nhà nước không thừa nhận có người thất nghiệp và khái niệm thất nghiệp, mọi người đến tuổi lao động đều được bố trí việc làm trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, nông, lâm trường. Mọi người làm việc và hưởng thụ theo sự phân công, bố trí và chế độ tem phiếu của Nhà nước. Điều này đã được thể hiện tại Điều 58 Hiến pháp 1980: Mọi công dân đều có quyền có việc làm, Nhà nước phải có nghĩa vụ cam kết bảo đảm việc làm đầy đủ cho người dân thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước có trách nhiệm tạo việc làm và bảo đảm cho công dân có chỗ làm việc theo chế độ biên chế suất đời, thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, đây chỉ là vấn đề mang tính khẩu hiệu, lý thuyết còn trên thực tế thì các quy định này đã không bao giờ thực hiện được và chúng ta đã phải nhìn nhận lại để chuyển đổi nền kinh tế cho phù hợp với các quy luật khách quan, theo cơ chế thị trường, quy luật cung cầu và giá trị. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 được đánh dấu một bước chuyển đổi căn bản nền kinh tế nước ta. Chúng ta đã mạnh dạn và quyết tâm chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung sang mô hình của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Từ đây, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đã được nhìn nhận lại đúng với bản chất vốn có của nó.

Lao động, việc làm được coi là một quyền chính đáng và cơ bản của công dân và được Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X (sau đây gọi tắt là Hiến pháp 1992) tại Điều 55 đã ghi nhận: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân" 6, tr. Từ đây, vấn đề việc làm đã được nhìn nhận đầy đủ và khách quan hơn. + Quan niệm về việc làm đầy đủ đã được thay thế bằng việc Nhà nước có trách nhiệm ngày càng tạo ra nhiều việc làm mới trong xã hội, trở thành mục tiêu trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội "Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người lao động" 6, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Vấn đề công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật đã được thể hiện trong Hiến pháp, đồng thời pháp luật cũng quy định mọi người phải có ý thức tự tìm việc làm cho bản thân và vì cuộc sống của bản thân mình.

Nhà nước cũng khuyến khích các hoạt động tạo ra được nhiều việc làm cho xã hội. Nếu như quan niệm trước đây chỉ có những người lao động làm việc trong khu vực kinh tế quốc doanh mới được coi là có việc làm thì ngày nay quan niệm này đã thay đổi: "Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" 7, tr. Như vậy, dưới góc độ pháp lý và khoa học thì khái niệm việc làm theo Bộ luật Lao động đã xóa bỏ quan niệm trước đây về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm, thể hiện được tính chất của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nếu các quy định pháp luật lao động trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang nặng tính bao cấp, phân bổ và bố trí của Nhà nước về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động thì các quy định mới theo Bộ luật Lao động, Nhà nước chỉ có trách nhiệm ở tầm vĩ mô, Nhà nước cũng chỉ là một trong các chủ thể có trách nhiệm trong việc giải quyết việc làm cho người lao động cần việc: "Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội" 6, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Dôi Dư Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các giải pháp nhằm xử lý tình trạng lao động dư thừa trong các doanh nghiệp nhà nước. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra các chính sách hiệu quả để hỗ trợ người lao động, từ đó giúp họ tìm kiếm việc làm mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm việc hiểu rõ hơn về các phương pháp giải quyết việc làm, cũng như các chính sách hỗ trợ từ nhà nước.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn chính sách giải quyết việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam", nơi đề cập đến các chính sách cụ thể cho người lao động trong bối cảnh thu hồi đất. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ ussh nhận diện và tháo gỡ những rào cản trong hoạt động của các sàn giao dịch việc làm thuộc sở lao động thương binh xã hội hà nội" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức trong việc tạo ra việc làm. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn đánh giá tình hình tạo việc làm cho lao động nữ nông thôn tại huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam" cung cấp cái nhìn về việc làm cho một nhóm lao động cụ thể, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về thị trường lao động hiện nay.