Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và đặc thù, chịu sự tác động trực tiếp của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và đạo đức. Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều hình thái hôn nhân từ quần hôn, hôn nhân thị tộc (gia đình Punaluan), hôn nhân đối ngẫu cho đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Tại Việt Nam, trải qua thời kỳ phong kiến và thuộc địa nửa phong kiến, chế độ đa thê tồn tại kéo dài đã tạo ra sự bất bình đẳng sâu sắc giữa nam và nữ, tước đoạt quyền tự do của người phụ nữ. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã kiên định xây dựng chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng, được hiến định qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu văn hóa, tình trạng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng vẫn diễn biến phức tạp dưới hai dạng thức: người đang có vợ/chồng kết hôn với người khác, hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Hành vi này không chỉ xâm phạm trật tự gia đình, tác động tiêu cực đến sự phát triển của con cái, mà còn dẫn tới nhiều hệ lụy xã hội như ly hôn, bạo lực gia đình, thậm chí phát sinh các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc giết người.

Từ yêu cầu thực tiễn và lý luận pháp lý, tác giả Vũ Văn Hưng thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Luật tại Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng (năm 2023) với đề tài: "Giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và phân tích các nội dung lý luận khái quát về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cùng quá trình phát triển của nguyên tắc này trong lịch sử pháp luật Việt Nam.
  2. Trình bày, phân tích sâu các quy định pháp luật thực định hiện hành về nhận diện và giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng (trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật xử lý vi phạm hành chính và pháp luật hình sự).
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các trường hợp vi phạm trên thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về giải quyết trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và thực tiễn áp dụng các quy định này.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu cơ chế giải quyết theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 kết hợp mở rộng ở các chế tài hành chính và hình sự liên quan.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Đề tài nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành và dữ liệu xét xử thực tiễn (các bản án, quyết định được Tòa án công bố giai đoạn 2020–2021), kết hợp quá trình khảo sát thực tế tại Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về gia đình và nhà nước, đặc biệt là các luận điểm trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" của Ph. Ăngghen về bản chất kinh tế - xã hội của chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Đồng thời, tác giả viện dẫn các định nghĩa kinh điển trong khoa học pháp lý quốc tế (như án lệ Hyde v. Hyde năm 1866 tại Anh) và hệ thống thuật ngữ pháp lý từ Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở phân tích bao gồm:

  • Văn bản lập hiến: Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 (Điều 64).
  • Văn bản luật chuyên ngành: Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000 và 2014; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 - Điều 182).
  • Văn bản dưới luật và hướng dẫn áp dụng: Sắc lệnh số 90-SL (1945), Sắc lệnh số 97-SL (1950); Thông tư số 60/TATC (1978); Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Điều 59).
  • Tài liệu tham khảo học thuật: Luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Thị Bích Ngọc (2015), khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thu Thủy (2012), nghiên cứu của PGS.TS. Trần Thị Minh Thi đăng trên Tạp chí Cộng sản và Chỉ thị số 49-CT/TW của Ban Bí thư.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm: Phân tích từng điều khoản luật thực định, bóc tách cấu thành vi phạm và cơ chế giải quyết quyền lợi nhân thân, tài sản, con chung.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh sự biến đổi của chế định hôn nhân qua các thời kỳ lịch sử (phong kiến, thực dân Pháp, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và thời kỳ đổi mới).
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý số liệu bản án công bố trên Cổng thông tin Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2020–2021 nhằm minh chứng thực trạng xử lý các vụ việc hủy kết hôn trái pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Chương 1 tập trung làm rõ nguồn gốc bản chất, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và tiến trình lịch sử lập pháp về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tại Việt Nam. Tác giả khẳng định gia đình là tế bào của xã hội, trong đó hôn nhân một vợ một chồng dựa trên tình yêu tự nguyện, bình đẳng là mô hình tiến bộ nhất.

Về mặt lý luận, khóa luận xác định ba đặc điểm cốt lõi của nguyên tắc:

  1. Là một nguyên tắc hiến định: Được khẳng định xuyên suốt từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 2013, bảo đảm giá trị pháp lý tối cao.
  2. Là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt hệ thống Luật Hôn nhân và gia đình: Giữ vị trí trung tâm ngay tại những điều khoản đầu tiên của các đạo luật HNGĐ qua các thời kỳ.
  3. Được thể hiện dưới dạng quy phạm pháp luật định hướng: Mang tính mệnh lệnh bắt buộc chung, định hình toàn bộ các quy phạm chuyên biệt về điều kiện kết hôn, quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

Ý nghĩa của nguyên tắc được phân tích toàn diện trên sáu phương diện: xóa bỏ tàn dư đa thê phong kiến; xác lập bình đẳng giới; gắn kết trách nhiệm nuôi dưỡng con cái; phòng ngừa ngoại tình và tệ nạn xã hội; tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội; và làm căn cứ giải quyết các tranh chấp nhân thân, tài sản, thừa kế.

Lịch sử pháp luật Việt Nam về hôn nhân một vợ một chồng được tác giả hệ thống qua các giai đoạn:

Thời kỳ lịch sử Văn bản / Nguồn luật tiêu biểu Đặc điểm pháp lý về quan hệ vợ chồng
Phong kiến Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) Thừa nhận chế độ đa thê (vợ cả, vợ lẽ); quy định trật tự thê thiếp; đặt nặng nghĩa vụ chung thủy một chiều đối với người vợ ("thất xuất", xử tội gian phụ).
Thực dân phong kiến (1858 – 1945) Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936), Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883) Tiếp tục duy trì chế độ đa thê; phân biệt chính thất và thứ thất; quan hệ vợ chồng bất bình đẳng.
Giai đoạn 1945 – 1959 Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 90-SL (1945), Sắc lệnh 97-SL (1950) Bước đầu khẳng định nguyên tắc bình đẳng nam nữ và tự nguyện hôn nhân; chưa có luật riêng phủ nhận hoàn toàn đa thê.
Giai đoạn 1959 đến nay Luật HNGĐ các năm 1959, 1986, 2000, 2014 Lần đầu tiên ghi nhận chính thức nguyên tắc một vợ một chồng (1959); từng bước hoàn thiện cơ chế hủy kết hôn trái pháp luật (1986); bổ sung hành vi cấm chung sống như vợ chồng (2000, 2014).

Chương 2: Quy định của pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành về giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Chương 2 là phần trọng tâm pháp lý của khóa luận. Tác giả phân tích căn cứ xác định "người đang có vợ, có chồng" theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP gồm 3 nhóm đối tượng:

  • Người đã kết hôn đúng pháp luật mà chưa ly hôn và vợ/chồng chưa chết (hoặc chưa bị tuyên bố đã chết).
  • Người xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân.
  • Người kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhưng đã được Tòa án công nhận bằng bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật.

Từ điểm c khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ năm 2014, hai hành vi vi phạm được xác định rõ:

  1. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác (và ngược lại).
  2. Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác (và ngược lại).

Cơ chế giải quyết theo pháp luật thực định được khóa luận làm rõ qua ba nhánh chế tài:

1. Cơ chế hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật HNGĐ năm 2014 và BLTTDS năm 2015

  • Nguyên tắc giải quyết: Xử lý nghiêm minh, kịp thời; bảo đảm hài hòa lợi ích của phụ nữ và trẻ em; ghi nhận ngoại lệ lịch sử đối với cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ/chồng theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978.
  • Chủ thể có quyền yêu cầu (Điều 10): Vợ, chồng của người vi phạm; cha, mẹ, con, người giám hộ, người đại diện theo pháp luật; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ.
  • Thẩm quyền và thủ tục: TAND cấp huyện (hoặc TAND cấp tỉnh nếu có yếu tố nước ngoài) giải quyết theo thủ tục việc dân sự (Điều 39 BLTTDS năm 2015).
  • Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật (Điều 12, 16, 81, 82, 84):
    • Về quan hệ nhân thân: Hai bên buộc phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
    • Về quan hệ tài sản: Không công nhận tài sản chung hợp nhất của vợ chồng; ưu tiên giải quyết theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận thì áp dụng BLDS; công việc nội trợ được tính là lao động có thu nhập nhằm bảo vệ quyền lợi phụ nữ.
    • Về quan hệ cha mẹ và con: Quyền và nghĩa vụ đối với con chung không bị thay đổi, giải quyết tương tự như trường hợp ly hôn (ưu tiên giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng).

2. Xử phạt vi phạm hành chính

Khóa luận so sánh mức phạt qua các thời kỳ. Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Đến Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/9/2020), mức xử phạt đã tăng lên từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng và các hành vi cấm kết hôn cận huyết, nuôi dưỡng. Tác giả đánh giá mức phạt này tuy đã tăng nhưng vẫn còn thấp, chưa đủ sức răn đe.

3. Xử lý hình sự

Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được cấu thành theo hai khung hình phạt:

  • Khung 1 (Cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm): Gây hậu quả làm cho một hoặc cả hai bên phải ly hôn; hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn tiếp tục vi phạm.
  • Khung 2 (Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm): Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; hoặc vẫn duy trì quan hệ sau khi Tòa án đã có quyết định hủy kết hôn/buộc chấm dứt chung sống trái pháp luật.

Chương 3: Thực tiễn giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo Luật HNGĐ và một số kiến nghị nhằm giải quyết một cách có hiệu quả

Chương 3 đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trên thực tế và đưa ra các đề xuất hoàn thiện.

Về thành tựu đạt được:

  • Trải qua 64 năm kể từ Luật HNGĐ năm 1959, nguyên tắc một vợ một chồng đã thấm sâu vào đời sống xã hội; tập tục đa thê cơ bản bị đẩy lùi.
  • Công tác phối hợp giữa Tòa án, UBND cấp xã, lực lượng Công an và Hội Liên hiệp Phụ nữ được củng cố. Việc đưa vào vận hành hệ thống thông tin quản lý hộ tịch điện tử trên toàn quốc giúp chuẩn hóa và liên thông dữ liệu đăng ký kết hôn, hạn chế việc kết hôn trùng lặp.
  • Đội ngũ cán bộ tư pháp, thẩm phán nâng cao kỹ năng xét xử và áp dụng pháp luật tố tụng thông qua các phiên tòa rút kinh nghiệm.
  • Số liệu thực tế: Trong tổng số 73 bản án, quyết định về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án công bố trong giai đoạn 2020–2021, chỉ có 8 bản án, quyết định thuộc trường hợp hủy do vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, phần lớn các vụ việc còn lại thuộc các vi phạm điều kiện kết hôn khác.

Về định hướng giải pháp:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật: Bổ sung cơ chế pháp lý điều chỉnh rõ ràng hơn đối với các trường hợp "chung sống như vợ chồng" trái pháp luật; tăng mức xử phạt hành chính nhằm nâng cao tính răn đe.
  2. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Tăng cường giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật hôn nhân gia đình trong cộng đồng dân cư.
  3. Tăng cường cơ chế phối hợp: Phát huy vai trò giám sát, phát hiện của các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên) và cơ quan quản lý hộ tịch tại cơ sở.
  4. Ứng dụng công nghệ thông tin: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc và cơ sở dữ liệu dân cư để kiểm soát tình trạng hôn nhân một cách chính xác, kịp thời.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và số liệu thực tế

  • Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ chế pháp lý ba tầng xử lý vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng (dân sự - HNGĐ, hành chính, hình sự).
  • Làm rõ các hệ quả pháp lý đặc thù về tài sản theo Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014, nhấn mạnh quy định tiến bộ: tính công việc nội trợ như lao động có thu nhập để bảo vệ phụ nữ khi xử lý quan hệ tài sản trong hôn nhân trái pháp luật.
  • Cung cấp dữ liệu thống kê từ 73 bản án, quyết định hủy kết hôn trái pháp luật công bố giai đoạn 2020–2021, chứng minh tỷ lệ vi phạm chế độ một vợ một chồng chiếm 8 trường hợp (tỷ lệ thấp trong cơ cấu án hủy kết hôn nhưng có tính chất phức tạp về nhân thân và tài sản).

Đề xuất giải pháp của tác giả

Khóa luận đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật thực định nhằm khắc phục khoảng trống pháp lý đối với hành vi chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn.
  2. Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa UBND cấp cơ sở, Hội Phụ nữ và cơ quan tố tụng.
  3. Đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật hôn nhân gia đình.
  4. Tối ưu hóa hệ thống phần mềm quản lý hộ tịch điện tử toàn quốc.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Kế thừa các công trình nghiên cứu rộng về chế độ hôn nhân (như luận văn thạc sĩ năm 2015 của Đỗ Thị Bích Ngọc, khóa luận năm 2012 của Nguyễn Thị Thu Thủy), khóa luận của tác giả Vũ Văn Hưng tập trung chuyên sâu vào cơ chế giải quyết và xử lý vi phạm dựa trên khung pháp lý mới của Luật HNGĐ năm 2014, BLTTDS năm 2015, BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích dưới góc độ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các chế tài hình sự và hành chính mới dừng ở mức độ tổng hợp bổ trợ. Dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên các bản án được công bố công khai trên cổng thông tin trong giai đoạn 2020–2021 và quan sát thực tập tại địa bàn cấp quận (UBND quận Lê Chân), chưa bao quát toàn diện số liệu xử phạt vi phạm hành chính tại các địa phương trên toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế thu thập chứng cứ chứng minh hành vi "chung sống như vợ chồng trái pháp luật" trong thực tiễn tố tụng dân sự và hình sự; đánh giá tác động của việc tích hợp Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đối với công tác đăng ký hộ tịch và phòng ngừa vi phạm chế độ hôn nhân.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Luật, Luật Kinh tế: Phục vụ học tập và nghiên cứu các học phần Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hình sự.
  • Học viên, người làm đề tài tốt nghiệp: Tham khảo cách tiếp cận lịch sử lập pháp, phương pháp tổng hợp chế tài xử lý vi phạm và cấu trúc phân tích bản án.
  • Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp cơ sở: Cung cấp cơ sở lý luận và hướng dẫn thực thi Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP trong việc xác định tình trạng hôn nhân và xử lý hồ sơ đăng ký kết hôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định hiện hành, người như thế nào được xác định là "người đang có vợ, có chồng"?
Căn cứ Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, người đang có vợ/chồng thuộc một trong ba trường hợp: (1) Đã kết hôn hợp pháp mà chưa ly hôn và người kia chưa chết; (2) Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn/chết; (3) Kết hôn vi phạm điều kiện nhưng đã được Tòa án công nhận bằng bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Khi Tòa án tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật, quan hệ tài sản của các bên được xử lý ra sao?
Theo khoản 3 Điều 12 và Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014, Nhà nước không công nhận quan hệ tài sản chung hợp nhất. Tài sản được giải quyết theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo Bộ luật Dân sự. Tài sản riêng của ai thuộc về người đó. Luật bảo vệ quyền lợi phụ nữ và con cái, trong đó công việc nội trợ và duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

3. Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP là bao nhiêu?
Theo Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (thay thế Nghị định 110/2013/NĐ-CP), hành vi đang có vợ/chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác (hoặc chưa có vợ/chồng nhưng kết hôn/chung sống với người biết rõ là đang có vợ/chồng) bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

4. Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 182 BLHS 2015) khi nào?
Người vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các điều kiện: làm cho quan hệ hôn nhân của một/hai bên dẫn đến ly hôn; đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm; làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; hoặc tiếp tục duy trì quan hệ dù đã có quyết định của Tòa án hủy kết hôn/buộc chấm dứt chung sống.

5. Trong số các bản án Tòa án công bố năm 2020–2021, có bao nhiêu trường hợp hủy kết hôn do vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng?
Theo số liệu thống kê được nêu trong khóa luận, trong tổng số 73 bản án, quyết định về hủy kết hôn trái pháp luật được Tòa án công bố trong giai đoạn 2020–2021, có 8 bản án, quyết định xử lý hủy kết hôn do vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Văn Hưng đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và các quy định pháp luật thực định về xử lý hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tại Việt Nam. Công trình làm rõ cơ chế giải quyết tổng hợp từ chế tài hủy kết hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đến các chế tài xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự. Những phân tích thực tiễn và kiến nghị được đề xuất trong khóa luận góp phần cung cấp góc nhìn học thuật và thực tiễn nhằm củng cố trật tự pháp lý, bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình tiến bộ và bền vững.