CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG 1. Khái niệm hôn nhân một vợ, một chồng 1. Khái niệm hôn nhân Kể từ thời nguyên thuỷ cho đến hiện nay thì gia đình luôn tồn tại trong mọi xã hội và là nơi đáp ứng những như cầu cơ bản nhất của các thành viên trong gia đình. Điểm khác biệt của gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của các loài động vật đó là gia đình trong xã hội loài người luôn bị ràng buộc với các điều kiện về văn hoá, xã hội và pháp luật đồng thời còn bị ràng buộc bởi các chuẩn mực giá trị đạo đức, giá trị nhân văn.
Còn trong các ngành xã hội học nói chung thì gia đình có thể được xem xét như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời nó cũng giống như một thiết chế xã hội rất quan trọng trong việc hình thành nên xã hội loài người. Có thể thấy, gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên được gắn kết với nhau bởi các quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Từ đó, chúng ta có thể thấy hôn nhân chính là một nền tảng rất quan trọng để tạo ra gia đình. Hôn nhân và gia đình có thể coi là nền tảng của xã hội, nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục các thế hệ tiếp theo của xã hội, đất nước, nơi gìn giữ và phát triển các nét đặc trưng văn hoá, truyền thống của một quốc gia, một dân tộc.
Người xưa có câu: Sự sinh sôi của vạn vật là theo lẽ tự nhiên, con người cũng là một phần của vạn vật, cũng theo lẽ Trời đất mà biến hoá nên phải có phối ngẫu nam nữ. Trai phải có vợ, gái phải có chồng, phối hợp âm dương thì loài người mới duy trì nòi giống được, xã hội mới phát triển được. Có thể thấy mục đích cơ bản và quan trọng nhất của đời sống hôn nhân là việc sinh sản, nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ sau để đảm bảo tương lai tồn tại của xã hội, của quốc gia. Hôn nhân một vợ, một chồng sẽ tạo ra các gia đình cơ bản – các tế bào khoẻ mạnh cho xã hội và góp phẩn thúc đẩy xã hội phát triển.
Còn các chế độ hôn nhân đặc biệt như hôn nhân đồng tính sẽ không đảm bảo được việc duy trì nòi giống, hôn nhân đa thê thì không đảm bảo được gia đình sẽ phát triển lành mạnh 4 mà có thể tạo ra sự ganh đua, ganh ghét và những yếu tố không tốt cho sự phát triển của gia đình. Do vậy, hôn nhân một vợ, một chồng là loại hình hôn nhân cơ bản nhất và được công nhận ở nhiều quốc gia. Còn những chế độ hôn nhân đặc biệt như hôn nhân đa thê, hôn nhân đồng giới thì chỉ được chấp nhận ở một số quốc gia trong một số giai đoạn lịch sử nhất định. Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học LHNGD nói riêng thì việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng.
Nó là thước đo để phản ánh tiêu chuẩn và quan điểm chung nhất của Nhà nước về hôn nhân, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của quan hệ hôn nhân cũng như xác định nội dung và phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp Luật HNGD. Trong phán quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866) thì Lord Penzance đã nêu ra một khái niệm cổ điển mang quan niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo: “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác”. Bên cạnh đó, các Luật gia ở Châu Âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”. Tại Việt Nam, dưới thời kì phong kiến thì hôn nhân được hiểu là sự tương hợp giữa hai dòng họ nhằm mục đích thờ phụng tổ tiên và kế truyền dòng họ.
Thời kì này, chế độ hôn nhân thể hiện sự không tự do và bất bình đẳng. Chế độ hôn nhân được thể chế hoá theo những lễ nghi, thể chế của nhà nước phong kiến cổ đại. Còn trong các hệ thống dân Luật Việt Nam dưới chế độ Sài gòn cũ chưa đưa ra khái niệm cụ thể về hôn nhân mà chỉ mới đưa ra khái niệm “giá thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức Luật định” hoặc “giá thú” cũng được hiểu: “sự trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ”. Theo một số Luật gia Sài Gòn, khái niệm “giá thú” bao gồm có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất giá thú là hành vi phối hợp vợ 5 chồng (kết hôn).
Theo nghĩa thứ hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời gian hai người ăn ở với nhau. Luật HNGĐ Việt Nam năm 2000 định nghĩa hôn nhân là “quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Điểm 6 Điều 8) và điều này cũng được định nghĩa lại tại Luật HNGĐ Việt Nam năm 2014 (Khoản 1 Điều 3). Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội có định nghĩa cụ thể hơn về hôn nhân, theo đó hôn nhân được hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”. Như vậy, có thể thấy nội dung cơ bản nhất của khái niệm hôn nhân đó là một quan hệ pháp lý giữa người vợ và người chồng được pháp luật công nhận.
Khái niệm hôn nhân một vợ một chồng Hôn nhân một vợ, một chồng hiểu là quan hệ hôn nhân được xác lập bởi duy nhất một người đàn ông và một người đàn bà. Trái ngược với hôn nhân đa thê ở thời phong kiến, một người đàn ông có thể có “năm thê bảy thiếp”, hôn nhân một vợ, một chồng chỉ cho phép một người đàn ông có một người vợ và ngược lại. Hôn nhân một vợ, một chồng xuất hiện đầu tiên trong xã hội tư bản khi có chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, dưới chế độ tư bản, hôn nhân một vợ, một chồng chỉ là hình thức.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Ph. Ăngghen đã nhận định hôn nhân giai đoạn này: “quyết không phải là kết quả của tình yêu trai gái.vì như trước kia các cuộc hôn nhân vẫn là những cuộc hôn nhân có tính lợi hại. Gia đình các thể là hình thức gia đình đầu tiên không căn cứ vào các điều kiện tự nhiên, mà căn cứ vào các điều kiện kinh tế, vào sự thắng lợi của chế độ tư hữu với chế độ công hữu lúc ban đầu, được hình thành một cách tự phát” [, tr, 10-11]. Chế độ một vợ một chồng ra đời chỉ để bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, của cải của người đàn ông trong gia đình, đảm bảo thế hệ sau là con ruột do cặp vợ chồng 6 sinh ra để thừa kế tài sản của cha nhằm duy trì chế độ tư hữu.
Thực tế các tệ nạn ngoại tình và mại dâm công khai đã phá vỡ quan hệ một vợ một chồng. Phải đến xã hội chủ nghĩa hôn nhân một vợ một chồng mới được trở về với đúng bản chất của nó “Khi các tư liệu sản xuất biến thành tài sản xã hội, thì chế độ lao động làm thuê sẽ mất đi và tình trạng một số người phụ nữ cần phải bán mình vì đồng tiền sẽ không còn nữa. Tệ nạn mại dâm sẽ mất đi và chế độ một vợ một chồng không những không bị suy tàn mà cuối cùng còn trở thành hiện thực ngay cả đối với đàn ông nữa” [, tr. Trong những điều kiện tiến bộ của xã hội, hôn nhân một vợ, một chồng tồn tại vững chắc trên cơ sở tình yêu nam, nữ “Vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ được, cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam nữ, do ngay bản chất của nó là hôn nhân một vợ, một chồng” [, tr.
Trong hệ thống pháp Luật Việt Nam thì Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định về một số vấn đề hôn nhân. Sắc lệnh chưa đề cập đến chế độ một vợ một chồng và việc đăng ký kết hôn. Luật HNGĐ năm 1959 đã ghi nhận chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng (Điều 1) và cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác (Điều 5). Luật HNGĐ năm 1986 tiếp tục khằng định chế độ một vợ một chồng và quy định: Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định (Điều 8).
Luật HNGĐ Việt Nam năm 2000 và Luật HNGĐ Việt Nam năm 2014 cũng đều có định nghĩa về hôn nhân và quy định về hôn nhân một vợ, một chồng. Mặc dù các cách diễn đạt khác nhau, nhưng tất cả các quy định về hôn nhân trên đều có một đặc điểm chung đó là việc kết hôn được pháp luật công nhận và bảo vệ đó là hôn nhân hợp pháp giữa một người vợ và một người chồng. 7 Như vậy, có thể hiểu chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo pháp luật Việt Nam là: “sự tự nguyện, bình đẳng để liên kết một người nam và một người nữ, nhằm chung sống suốt đời với tư cách là vợ chồng. Nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc và bền vững”.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng 1. Nội dung nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng Với ý nghĩa là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp Luật Việt Nam, Luật HNGĐ cũng có những nguyên tắc cơ bản riêng. Nguyên tắc cơ bản của Luật HNGĐ là “những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình”. Nguyên tắc của Luật HNGĐ định hướng sự phát triển của các quan hệ hôn nhân và gia đình.