Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành" do sinh viên Vũ Văn Hưng (lớp PL2301K, Khoa Luật, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng) thực hiện năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đặng Thị Vân Anh. Địa bàn nghiên cứu thực tế gắn liền với quá trình thực tập của tác giả tại Văn phòng Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng hôn nhân là hiện tượng xã hội đặc thù chịu sự tác động sâu sắc của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa và đạo đức. Trải qua các hình thái lịch sử từ quần hôn, hôn nhân đối ngẫu đến hôn nhân một vợ một chồng, hình thái một vợ một chồng hiện là chế độ phổ biến nhất trên thế giới được pháp luật bảo vệ. Tại Việt Nam, sau thời kỳ phong kiến và thuộc địa nửa phong kiến với sự tồn tại kéo dài của chế độ đa thê, Nhà nước đã xác lập chế độ hôn nhân tiến bộ, tự nguyện, một vợ một chồng bình đẳng thông qua các bản Hiến pháp và hệ thống Luật Hôn nhân và Gia đình (HNGĐ). Tuy nhiên, thực tế xã hội vẫn tồn tại nhiều hành vi vi phạm nghiêm trọng: người đang có vợ, có chồng lại kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Hành vi này không chỉ phá vỡ quan hệ gia đình, xâm hại trật tự đạo đức xã hội mà còn làm phát sinh nhiều hệ lụy phức tạp như ly hôn, bạo lực gia đình, đánh ghen, cố ý gây thương tích hoặc giết người. Do đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật thực định và đánh giá cơ chế giải quyết vi phạm mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định theo 3 nội dung trọng tâm:

  1. Phân tích, trình bày các nội dung khái quát về nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng;
  2. Trình bày, làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý, giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng (tập trung vào chế định hủy việc kết hôn trái pháp luật, đồng thời xem xét chế tài hành chính và hình sự);
  3. Khảo sát thực tiễn giải quyết các trường hợp vi phạm, chỉ ra vướng mắc, bất cập và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân một vợ một chồng và cơ chế xử lý hành vi vi phạm. Phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Mốc dữ liệu thực tiễn được cập nhật đến giai đoạn 2020–2023.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về gia đình và hôn nhân, đặc biệt vận dụng luận điểm trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" của Ph. Ăng-ghen để giải thích bản chất kinh tế - xã hội của chế độ một vợ một chồng qua các thời kỳ.

Về cơ sở văn bản quy phạm pháp luật, tác giả rà soát và sử dụng hệ thống văn bản pháp lý chuyên ngành từ quá khứ đến hiện tại:

  • Các bản Hiến pháp Việt Nam: Hiến pháp 1946 (Điều 9), Hiến pháp 1980 (Điều 64), Hiến pháp 1992 (Điều 64) và Hiến pháp 2013 (Điều 36);
  • Các đạo luật Hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ: Luật HNGĐ năm 1959, Luật HNGĐ năm 1986, Luật HNGĐ năm 2000 và Luật HNGĐ năm 2014;
  • Pháp luật tố tụng và các ngành luật liên quan: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 39), Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Điều 182);
  • Các văn bản dưới luật và văn bản áp dụng: Sắc lệnh số 90-SL ngày 10/10/1945, Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP; Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa phương pháp luận duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các cấu thành pháp lý của hành vi kết hôn trái pháp luật, chung sống như vợ chồng và hậu quả pháp lý về nhân thân, tài sản, con chung;
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của các bộ luật phong kiến cổ (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ), pháp luật thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến (Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883) với pháp luật hiện đại, cũng như so sánh giữa các thế hệ Luật HNGĐ Việt Nam;
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại số liệu bản án, quyết định của Tòa án công bố trong giai đoạn 2020–2021 về giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật.

Nguồn dữ liệu của công trình gồm các ấn phẩm luật học (Luận văn thạc sĩ năm 2015 của Đỗ Thị Bích Ngọc, Khóa luận tốt nghiệp năm 2012 của Nguyễn Thị Thu Thủy, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội), dữ liệu khảo sát thứ bậc ưu tiên đời sống đăng trên Tạp chí Cộng sản của PGS. TS. Trần Thị Minh Thi (Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới), cùng 73 bản án, quyết định công bố công khai của hệ thống Tòa án nhân dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và phân tích tiến trình lập pháp điều chỉnh quan hệ một vợ một chồng tại Việt Nam:

  1. Khái niệm và bản chất pháp lý: Hôn nhân được xác định là sự liên kết giữa người nam và người nữ trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tuân thủ điều kiện và trình tự luật định nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững. Đối chiếu án lệ Hyde v Hyde (1866) của Lord Penzance tại Anh, tác giả nhấn mạnh bản chất pháp lý của hôn nhân một vợ một chồng là sự liên kết duy nhất giữa một người nam và một người nữ trong suốt thời kỳ hôn nhân còn hiệu lực.
  2. Đặc điểm của nguyên tắc:
    • Tính hiến định: Được ghi nhận xuyên suốt từ Hiến pháp 1980 đến Điều 36 Hiến pháp 2013;
    • Tính chỉ đạo xuyên suốt: Đóng vai trò kim chỉ nam trong hệ thống quy phạm của Luật HNGĐ;
    • Hình thức quy phạm chỉ đạo, định hướng: Đặt ra khuôn khổ ràng buộc bắt buộc chung đối với hành vi ứng xử của các chủ thể.
  3. Ý nghĩa xã hội - pháp lý: Tác giả hệ thống hóa 6 ý nghĩa căn bản: (1) Xóa bỏ tàn dư của chế độ đa thê phong kiến; (2) Thiết lập bình đẳng thực chất giữa nam và nữ; (3) Tạo nền tảng gắn kết tình cảm, chăm sóc và giáo dục con cái; (4) Giảm thiểu tình trạng ngoại tình và tệ nạn mại dâm; (5) Tạo động lực xây dựng nguồn nhân lực lành mạnh cho phát triển kinh tế; (6) Cung cấp căn cứ pháp lý để định danh, phân chia tài sản và giải quyết tranh chấp nhân thân, thừa kế.
  4. Lịch sử pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ:
Giai đoạn lịch sử Văn bản / Thiết chế điển hình Đặc điểm quy định về hôn nhân một vợ một chồng
Thời kỳ phong kiến Quốc triều hình luật (thời Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) Thừa nhận chế độ đa thê; duy trì trật tự thê thiếp khắt khe (vợ cả - vợ lẽ); xử lý nghiêm tội gian dâm của phụ nữ, nam giới được phép có nhiều vợ.
Thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến (1858–1945) Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883), Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936) Áp dụng chính sách chia để trị; duy trì chế độ đa thê ("giá thú về chính thất" và "giá thú về thứ thất"); chưa xác lập nguyên tắc một vợ một chồng.
Giai đoạn trước Luật HNGĐ (1945–1959) Hiến pháp 1946 (Điều 9), Sắc lệnh 90-SL (1945), Sắc lệnh 97-SL (1950) Khẳng định bình đẳng nam nữ; bãi bỏ quy định người vợ phải phụ thuộc vào chồng, đặt nền móng giải phóng phụ nữ dù chưa phủ nhận hoàn toàn chế độ đa thê.
Giai đoạn thi hành các Luật HNGĐ (1959 đến nay) Luật HNGĐ các năm 1959, 1986, 2000, 2014 Luật năm 1959 chính thức cấm lấy vợ lẽ; Luật năm 1986 quy định Tòa án có thẩm quyền hủy kết hôn trái pháp luật; Luật năm 2000 bổ sung cấm chung sống như vợ chồng trái phép; Luật năm 2014 hoàn thiện chế định hủy kết hôn và giải quyết hậu quả pháp lý.

Chương 2: Quy định của pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành về giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Chương này đi sâu vào phân tích kỹ thuật pháp lý của Luật HNGĐ năm 2014 và các văn bản liên quan:

  1. Khái niệm "Người đang có vợ, có chồng": Dẫn chiếu Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, gồm 3 trường hợp:
    • Đã kết hôn hợp pháp và chưa chấm dứt hôn nhân (do ly hôn hoặc vợ/chồng chết/bị tuyên bố chết);
    • Xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn, chưa ly hôn và không có sự kiện chết;
    • Kết hôn vi phạm điều kiện nhưng đã được Tòa án công nhận bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
  2. Dạng hành vi vi phạm: (1) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ/chồng kết hôn với người đang có vợ/chồng; (2) Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác (dựa trên dấu hiệu tổ chức sinh hoạt chung, gia đình chấp nhận, có tổ chức lễ cưới hoặc chăm sóc nhau như gia đình).
  3. Cơ chế hủy việc kết hôn trái pháp luật:
    • Quyền yêu cầu: Theo khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ năm 2014, chủ thể gồm vợ, chồng của người vi phạm; cha, mẹ, con, người giám hộ; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; Hội Liên hiệp phụ nữ.
    • Thẩm quyền và thủ tục: Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục việc dân sự (Điều 39 BLTTDS năm 2015; cấp tỉnh đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài). Thẩm phán yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong 07 ngày; người yêu cầu nộp lệ phí trong 05 ngày làm việc; Tòa án mở phiên họp giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định mở phiên họp.
    • Trường hợp ngoại lệ lịch sử: Cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc (1954) lấy vợ/chồng ngoài Bắc được điều chỉnh theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978; pháp luật công nhận cả hai quan hệ hôn nhân do hoàn cảnh chiến tranh chia cắt.
  4. Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật:
    • Về nhân thân: Hai bên buộc phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng; mọi quyền và nghĩa vụ nhân thân chấm dứt hoàn toàn.
    • Về tài sản: Không công nhận tài sản chung hợp nhất của vợ chồng; ưu tiên giải quyết theo thỏa thuận; không thỏa thuận được thì chia theo Bộ luật Dân sự trên nguyên tắc chứng minh quyền sở hữu riêng. Luật HNGĐ 2014 có điểm tiến bộ lớn: coi công việc nội trợ và các công việc duy trì đời sống chung như lao động có thu nhập để bảo vệ phụ nữ và con.
    • Về quan hệ con chung: Áp dụng như trường hợp ly hôn (Điều 81, 82, 84 Luật HNGĐ năm 2014). Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện hoặc có thỏa thuận khác).
  5. Chế tài hành chính và hình sự:
    • Chế tài hành chính: Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, nâng mức xử phạt hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng từ mức 1.000.000 – 3.000.000 đồng lên 3.000.000 – 5.000.000 đồng.
    • Chế tài hình sự: Điều 182 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng với hai khung hình phạt: Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (khi làm cho một hoặc cả hai bên phải ly hôn, hoặc đã bị xử phạt hành chính mà tiếp tục vi phạm); Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (khi làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát, hoặc tiếp tục duy trì dù đã có quyết định hủy kết hôn của Tòa án).

Chương 3: Thực tiễn giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo Luật HNGĐ và một số kiến nghị nhằm giải quyết một cách có hiệu quả

Chương 3 kết hợp phân tích thực tiễn xét xử, quản lý hộ tịch và đề xuất hoàn thiện:

  1. Thành tựu thực tiễn: Nhận thức xã hội được củng cố sau 64 năm lập pháp (từ Luật HNGĐ năm 1959 đến năm 2023). Tác giả dẫn số liệu nghiên cứu của PGS. TS. Trần Thị Minh Thi trên Tạp chí Cộng sản chỉ ra rằng người dân Việt Nam vẫn đặt gia đình là ưu tiên số một trong cuộc sống, đứng trước sức khỏe, việc làm và thu nhập. Về quản lý nhà nước, việc triển khai Hệ thống thông tin quản lý hộ tịch điện tử toàn quốc đã hỗ trợ tra cứu dữ liệu kết hôn liên thông, giảm thiểu kết hôn trùng lặp. Đội ngũ thẩm phán nâng cao chất lượng tranh tụng, tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm.
  2. Khảo sát số liệu tư pháp: Trong giai đoạn 2020–2021, thống kê 73 bản án, quyết định sơ thẩm và phúc thẩm được Tòa án công bố về hủy việc kết hôn trái pháp luật cho thấy: chỉ có 8 vụ việc hủy kết hôn xuất phát từ nguyên nhân vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng (chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 10,95%), phần lớn các vụ việc còn lại do vi phạm độ tuổi (tảo hôn) hoặc điều kiện tự nguyện.
  3. Bất cập còn tồn tại:
    • Về pháp luật: Luật HNGĐ năm 2014 không quy định cơ chế để Tòa án hủy việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mà chỉ giải quyết tuyên không công nhận quan hệ hôn nhân; mức phạt vi phạm hành chính (3.000.000 – 5.000.000 đồng) theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP còn thấp, chưa đủ sức răn đe trong điều kiện kinh tế hiện nay.
    • Về thực tiễn thi hành: Việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi "chung sống như vợ chồng" rất khó khăn nếu hai bên không đăng ký hộ khẩu chung; sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp và đoàn thể cơ sở đôi lúc còn chậm trễ.
  4. Kiến nghị giải pháp:
    • Hoàn thiện pháp luật: Tăng mức xử phạt hành chính tương xứng với thu nhập xã hội; bổ sung hướng dẫn chi tiết về biện pháp chế tài buộc chấm dứt tình trạng chung sống như vợ chồng bất hợp pháp.
    • Đẩy mạnh chuyển đổi số: Hoàn thiện đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hộ tịch điện tử giữa ngành Công an và ngành Tư pháp để chặn đứng việc gian lận tình trạng hôn nhân khi đăng ký kết hôn khác địa bàn.
    • Nâng cao vai trò giám sát, phổ biến pháp luật của Hội Liên hiệp Phụ nữ, cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã/phường.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp các số liệu định lượng, đối chiếu văn bản cụ thể phục vụ đánh giá thực thi pháp luật:

Chỉ số / Nội dung so sánh Quy định cũ Quy định hiện hành Dữ liệu thực tế ghi nhận
Mức phạt vi phạm hành chính hành vi vi phạm hôn nhân một vợ một chồng 1.000.000 – 3.000.000 đồng (Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP) 3.000.000 – 5.000.000 đồng (Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) Mức xử phạt đã tăng nhưng tác giả nhận định vẫn còn thấp, tính răn đe chưa cao.
Án hủy kết hôn trái pháp luật công bố giai đoạn 2020–2021 Không phân tách Tổng số: 73 bản án, quyết định Vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng: 8/73 bản án (chiếm tỷ lệ 10,95%).
Thời hạn tố tụng giải quyết việc dân sự hủy kết hôn Quy định rải rác BLTTDS 2015 & TTLT 01/2016 Sửa đổi hồ sơ: 07 ngày; nộp lệ phí: 05 ngày làm việc; mở phiên họp: 15 ngày.

Về mặt đóng góp học thuật, tác giả tự định vị công trình đã lấp khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng theo khuôn khổ pháp luật hiện hành. Trước đó, các nghiên cứu tiêu biểu của Đỗ Thị Bích Ngọc (năm 2015) và Nguyễn Thị Thu Thủy (năm 2012) chủ yếu tiếp cận ở góc độ lý luận chung hoặc gắn với Luật HNGĐ năm 2000 cũ. Khóa luận năm 2023 của Vũ Văn Hưng đã cập nhật toàn diện việc áp dụng Luật HNGĐ năm 2014 kết hợp các văn bản quy phạm mới nhất như Nghị định 82/2020/NĐ-CP và hệ thống phần mềm hộ tịch điện tử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn căn cứ theo văn bản và phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Hạn chế về phạm vi và mẫu dữ liệu: Nghiên cứu mới khảo sát dữ liệu bản án công bố công khai của Tòa án trong giai đoạn ngắn (2020–2021 với 73 bản án) và quan sát thực tiễn tại Văn phòng HĐND - UBND quận Lê Chân; chưa mở rộng phạm vi thống kê hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính tại UBND cấp cơ sở trên toàn quốc.
  • Hạn chế về chiều sâu chế tài hình sự: Tác giả phân tích cấu thành tội danh theo Điều 182 BLHS năm 2015 nhưng thiếu số liệu các vụ án hình sự bị khởi tố, truy tố thực tế trên địa bàn khảo sát để so sánh tỷ lệ chuyển biến giữa xử phạt hành chính sang xử lý hình sự.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khảo sát thực tế việc xử lý các tranh chấp tài sản phức tạp phát sinh từ việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tòa án - Công an - Tư pháp hộ tịch trên nền tảng dữ liệu số.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Cung cấp tài liệu hệ thống hóa lịch sử lập pháp về chế độ một vợ một chồng từ thời Lê, Nguyễn, thời kỳ thuộc địa đến nay; phục vụ trực tiếp cho các học phần Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Tố tụng dân sự.
  • Cán bộ tư pháp - hộ tịch, Thư ký và Thẩm phán Tòa án: Giá trị tham khảo nằm ở bảng phân tích Điều 16 Luật HNGĐ năm 2014 về tính chất lao động nội trợ khi chia tài sản chung, các bước xử lý chuyển đổi quan hệ hôn nhân tại phiên họp Tòa án theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, và quy trình xử lý trường hợp đặc thù của cán bộ miền Nam tập kết theo Thông tư số 60/TATC.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận làm rõ trường hợp nào được coi là "người đang có vợ, có chồng" theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP? Văn bản xác định 3 trường hợp: (1) Đã kết hôn đúng luật mà chưa ly hôn hoặc vợ/chồng chưa chết/chưa bị tuyên bố chết; (2) Xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 chưa đăng ký kết hôn, chưa ly hôn và chưa chết; (3) Kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Khi Tòa án mở phiên họp, nếu hai bên kết hôn trái pháp luật đã đủ điều kiện kết hôn thì được xử lý ra sao? Theo Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP được tác giả trích dẫn: Nếu cả hai bên cùng yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận kể từ thời điểm có đủ điều kiện; nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy, yêu cầu ly hôn hoặc có một bên không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật; nếu hai bên cùng yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Hoàn cảnh lịch sử đặc thù nào vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng nhưng không bị coi là kết hôn trái pháp luật? Đó là trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954 đã có vợ/chồng ở miền Nam mà lấy vợ/chồng ở miền Bắc. Theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao, việc kết hôn sau không bị coi là trái pháp luật và pháp luật công nhận cả hai quan hệ hôn nhân hợp pháp do hoàn cảnh lịch sử chiến tranh.

4. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng thay đổi như thế nào giữa Nghị định 110/2013/NĐ-CP và Nghị định 82/2020/NĐ-CP? Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng. Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Điều 59) có hiệu lực từ ngày 01/9/2020 đã bãi bỏ mức cũ và nâng khung phạt tiền lên từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng đối với cùng nhóm hành vi.

5. Trong tập dữ liệu Tòa án công bố giai đoạn 2020–2021, có bao nhiêu bản án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng? Khóa luận thống kê có tổng số 73 bản án, quyết định của Tòa án về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật được công bố trong giai đoạn 2020–2021, trong đó chỉ có 8 bản án, quyết định hủy kết hôn do vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng, phần còn lại là hủy do vi phạm các điều kiện kết hôn khác.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Văn Hưng là công trình nghiên cứu chuyên ngành luật thực định, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lập pháp và thực tiễn xử lý các vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ cơ chế phối hợp giữa các chế định hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật HNGĐ năm 2014 với các quy định xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự. Những số liệu thực chứng trích xuất từ 73 bản án cùng kiến nghị điều chỉnh mức phạt hành chính và số hóa hộ tịch đem lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác nghiên cứu luật học và thực thi hộ tịch ở cơ sở.