CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 1. Khái niệm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Theo nghĩa chung nhất, nguyên tắc được hiểu là: “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”1. Xét từ góc độ khoa học xã hội, nguyên tắc được hiểu với nghĩa là “Tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một hoạt động nào đó”.
Hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật là những hoạt động thực tiễn có tính khoa học và phải tuân theo các nguyên tắc pháp luật nhất định. Đó là những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, mang tính xuất phát điểm, định hướng, xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi pháp luật. Trần Huệ Trinh (2022, 14) chỉ ra rằng: “nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo phản ánh khái quát sự vật khách quan liên quan tới quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đây là những cơ sở quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình này phải nghiêm chỉnh tuân theo”2.
Nguyên tắc pháp luật có thể được chia thành ba loại: các nguyên tắc chung, các nguyên tắc chuyên ngành và các nguyên tắc riêng. Hôn nhân là sự liên kết tình cảm giữa người nam và người nữ, được xác nhận bởi pháp luật, thể hiện sự phát triển của con người trong xã hội nhằm mục đích cùng chung sống, tương trợ lẫn nhau, xây dựng gia đình hạnh phúc. Ngày nay, quan hệ hôn nhân được xác lập sẽ phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên với nhau và con cái, người thân. Thông qua việc kết hôn một gia đình mới được ra đời.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chế độ một vợ một chồng xã hội 1 Trung tâm từ điển ngôn ngữ (2003), “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đà Nẵng, trang 694. 2 Trần Huệ Trinh (2022), “Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội, trang 14 8 chủ nghĩa khác với chế độ một vợ một chồng cổ điển, lúc mà nó vừa ra đời và tồn tại trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng tiếp theo. Nếu nguồn gốc của chế độ một vợ một chồng là do điều kiện kinh tế (chế độ tư hữu) và mục đích của nó là để đảm bảo con cái do người vợ đẻ ra phải là con của chính người chồng để kế thừa tài sản mà thực chất là để duy trì chế độ tư hữu bóc lột thì chế độ một vợ một chồng xã hội chủ nghĩa lấy tình yêu chân chính giữa nam và nữ là cơ sở và với mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận3. Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hôn nhân tùy thuộc vào tôn giáo, phong tục tập quán của mỗi quốc gia.
Nguyễn Hồng Hải (2007) chỉ ra rằng: “một số luật gia ở Châu âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”.4” Theo Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau kết hôn”. Từ đó, khái niệm hôn nhân một vợ một chồng cũng đã được một số nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa, Đỗ Thị Bích Ngọc (2015, 10) cho rằng rằng: “Hôn nhân một vợ một chồng là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững.”5 Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ Việt Nam gắn liền với sự hình thành và phát triển của gia đình Việt Nam, được xây dựng trên nền tảng hôn nhân tự nguyện, tiến bộ nhằm xóa bỏ chế độ đa thê trong hôn nhân thời phong kiến, mang lại sự bình đẳng trong xã hội. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, trang 41 4 Nguyễn Hồng Hải (2007), “Một vài ý kiến về khái niệm và bản chất pháp lý của hôn nhân”, đăng trên website https://phapluatdansu.vn ngày 11/9/2007 5 Đỗ Thị Bích Ngọc (2015), “Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và thực tiễn thực hiện”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội, trang 10 9 Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng quy định: Trong thời kỳ hôn nhân chỉ được xác lập duy nhất một quan hệ vợ chồng hợp pháp. Pháp luật cấm các hành vi kết hôn, chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng và ngược lại.
Cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác được thể hiện ở cả hai chiều: người đang có vợ, có chồng với người khác và người khác với người đang có vợ, có chồng. Người khác có thể là bất cứ ai: người độc thân, người đang có vợ, có chồng hoặc người đồng tính… Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác đã phá vỡ tính gắn kết của quan hệ hôn nhân giữa hai bên vợ chồng, đã làm phá vỡ tính chất một vợ một chồng dựa trên cơ sở tình yêu, bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ được. Cùng nghiên cứu về đề tài “Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và thực tiễn thực hiện”, tác giả Đỗ Thị Bích Ngọc (2015, 12) cho rằng: “Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, quy định người đang có vợ, đang có chồng không được phép kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại, bất cứ một người nào khác cũng không được phép kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng”6. Về cơ bản tác giả đồng quan điểm với ý kiến của tác giả Đỗ Thị Bích Ngọc đưa ra, tuy nhiên tác giả xin nêu quan điểm một cách cụ thể hơn như sau: Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được hiểu là tư tưởng, nguyên lý có tính chất chỉ đạo, quán triệt và được thể hiện xuyên suốt trong các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, theo đó trong thời kỳ hôn nhân mỗi người chỉ được xác lập duy nhất một quan hệ vợ chồng hợp pháp.
Mỗi bên đều không được phép thực hiện các hành vi kết hôn, chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng và ngược lại, đồng thời cũng bị cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác khi đã kết hôn để không phá vỡ tính chất hôn nhân một vợ một chồng. 6 Đỗ Thị Bích Ngọc (2015), “Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và thực tiễn thực hiện”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội, trang 12 10 1. Đặc điểm của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật HN&GĐ ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở nước ta được ghi nhận từ lâu đời trong Hiến pháp và xuyên suốt trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực HN&GĐ.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được coi là nguyên tắc cơ bản và quan trọng hàng đầu trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ. Tại Hiến pháp năm 1959 với vai trò là “Luật gốc” đã nêu “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”7. Theo đó, Luật HN&GĐ đầu tiên của nước ta đã thể chế hóa quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo hộ HN&GĐ thông qua các nguyên tắc cụ thể, đặc biệt là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Luật HN&GĐ năm 1959 ghi nhận “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác”8, tại thời điểm năm 1959 khi Luật HN&GĐ ra đời thì đây được coi là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh về lĩnh vực này sau Hiến pháp.
Việc cụ thể hóa nguyên tắc này thành quy định pháp luật là nền tảng trong việc xây dựng quan hệ hôn nhân tiến bộ, bền vững dựa trên gốc rễ là sự chung thủy trong hôn nhân. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ra đời đã xóa đi chế độ đa thê – nguyên nhân làm bất bình đẳng giới trong gia đình, đồng thời xóa bỏ những quan niệm lạc hậu đã ăn sâu, in dấu trong xã hội Việt Nam. Thứ hai, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc độc lập trong hệ thống các nguyên tắc của chế độ HN&GĐ. Tồn tại song song với các nguyên tắc cơ bản khác của Luật HN&GĐ và cùng bổ trợ cho nhau để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ.
7 Xem Điều 24 Hiến pháp Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959; 8 Xem Điều 5 Luật HN&GĐ năm 1959; 11 Để điều chỉnh hài hòa và hợp lý các quan hệ phát sinh, thay đổi trong lĩnh vực HN&GĐ cần rất nhiều các nguyên tắc và quy định khác nhau như: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con. Song mỗi nguyên tắc có những nội dung, vai trò và ý nghĩa riêng. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tập trung điều chỉnh mối quan hệ giữa vợ, chồng và những “người thứ ba” khác nằm ngoài quan hệ vợ chồng, trong khi đó các nguyên tắc còn lại thì tập trung điều chỉnh về mối quan hệ, trách nhiệm giữa các thành viên trong quan hệ HN&GĐ với nhau. Xuất phát bởi việc có đối tượng điều chỉnh, quan hệ điều chỉnh riêng biệt nên nguyên tắc này là nguyên tắc riêng và độc lập so với các nguyên tắc còn lại của Luật HN&GĐ.
Nguyên tắc này có mối quan hệ gắn bó với các nguyên tắc khác của Luật HN&GĐ, các nguyên tắc này cũng bổ trợ lẫn nhau để đảm bảo xây dựng quan hệ hôn nhân bền vững, văn minh.