Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam" do sinh viên Nguyễn Thị Bích Hằng (mã sinh viên: 452502) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Lan, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2024 thuộc chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình.
Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí trung tâm của gia đình trong cấu trúc xã hội. Một nền tảng hôn nhân bền vững đòi hỏi sự bảo đảm về cả nhân thân và tài sản nhằm duy trì cuộc sống chung. Tuy nhiên, quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ và chồng là dạng quan hệ đặc thù, gắn liền với nhân thân, hình thành và tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, không mang tính chất đền bù ngang giá và rất khó bóc tách công sức đóng góp cụ thể của từng bên. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển, số lượng các vụ án ly hôn có tranh chấp tài sản gia tăng nhanh chóng với quy mô giá trị ngày càng lớn. Những tranh chấp này thường diễn ra gay gắt, kéo dài, gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự gia đình và xã hội. Thực tiễn áp dụng pháp luật bộc lộ nhiều điểm khuyết, mâu thuẫn và bất cập, khiến đương sự lúng túng và Tòa án gặp khó khăn trong quá trình xét xử. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này là yêu cầu cấp thiết nhằm làm sáng tỏ lý luận và tháo gỡ vướng mắc thực tiễn.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp tài sản khi ly hôn tại Tòa án, từ đó chỉ ra các bất cập quy phạm cũng như vướng mắc thực tiễn để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng; đưa ra các khái niệm khoa học liên quan (đặc điểm, vai trò, ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình); tìm hiểu có hệ thống chế độ tài sản trong pháp luật Việt Nam để khẳng định tính tất yếu khách quan của chế định này.
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng; phân tích sự kế thừa, phát triển và những điểm mới trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, chỉ ra những hạn chế, thiếu sót và vướng mắc trong công tác áp dụng pháp luật.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn cụ thể cách hiểu, áp dụng các điều khoản của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và thực tiễn xét xử tranh chấp tài sản tại một số Tòa án nhân dân. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tài sản tại một số Tòa án ở Việt Nam; văn bản nêu rõ không nghiên cứu các vụ việc tranh chấp tài sản có yếu tố nước ngoài.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật thực định Việt Nam:
- Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 32 ghi nhận quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất).
- Bộ luật Dân sự năm 2015: Điều 105 (khái niệm tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản); Điều 158 (nội hàm quyền sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt); Điều 159 (quyền khác đối với tài sản gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt); Điều 192 (quyền sử dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức); Điều 459 và Điều 503 (hình thức tặng cho và đăng ký quyền sở hữu bất động sản).
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Chế độ tài sản luật định (các điều từ 33 đến 46); Nguyên tắc và căn cứ chia tài sản khi ly hôn (Điều 59); Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản với người thứ ba (Điều 60); Chia tài sản khi sống chung với gia đình (Điều 61); Chia quyền sử dụng đất (Điều 62); Chia tài sản đưa vào kinh doanh (Điều 64).
- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình: Điều 9 (thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng); Điều 11 (tài sản riêng khác của vợ, chồng); Điều 15 (thỏa thuận về chế độ tài sản).
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình (Điều 7 về nguyên tắc giải quyết tài sản khi ly hôn).
- Luật Đất đai năm 2013 (khoản 3 Điều 188; điểm a khoản 4 Điều 95 về đăng ký biến động đất đai) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
- Khung so sánh pháp luật quốc tế: Đạo luật Gia đình Úc (Điều 90B và Điều 90C); quy định về thỏa thuận tài sản trong hôn nhân của Cộng hòa Dân chủ Đức và Hoa Kỳ.
Về phương pháp luận, tác giả sử dụng phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình. Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả phối hợp:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt khi làm rõ bản chất các chế định tài sản, quyền sở hữu chung, quyền sở hữu riêng và các nguyên tắc phân chia tài sản.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với hệ thống pháp luật trước đây của Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia (Úc, Đức, Hoa Kỳ) về thời điểm xác lập và nội dung thỏa thuận tài sản.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ bản án thực tế: Khảo sát, phân tích trực tiếp các phán quyết xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại một số Tòa án địa phương.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các văn bản quy phạm pháp luật, 03 bản án thực tế cụ thể của hệ thống Tòa án nhân dân (Bản án số 22/2023/HNGĐ-ST, Bản án số 22/2022/HNGĐ-ST, Bản án số 27/2023/HNGĐ-PT) và các công trình khoa học đã công bố của các chuyên gia như TS. Cấn Ngô Thị Hường (2000), Nguyễn Ngọc Điện, TS. Nguyễn Văn Cừ, Lại Thị Tuyển, Lê Thị Dụng, Đinh Thị Minh Mẫn, Vũ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Thu Hà, Đỗ Việt Anh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái niệm và pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và phân tích các quy định pháp luật thực định:
-
Khái niệm và đặc điểm:
- Tài sản của vợ chồng: Là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia, gắn liền với thời kỳ hôn nhân. Khác với sở hữu chung theo phần, tài sản chung của vợ chồng hình thành từ lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, thu nhập hợp pháp khác, hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản riêng hoặc được thừa kế chung, tặng cho chung, thỏa thuận là tài sản chung. Tác giả nhấn mạnh truyền thống pháp lý "của chồng công vợ", tài sản chung không nhất thiết phải do hai người trực tiếp tạo ra ngang bằng nhau.
- Quyền sở hữu và chế độ tài sản: Phân tích Điều 158 BLDS 2015 về ba quyền năng (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt). Chế độ tài sản của vợ chồng được định nghĩa là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quyền sở hữu hoặc ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng về căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt tài sản; quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung, tài sản riêng; trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản.
- Đặc điểm tài sản chung: Đòi hỏi chủ thể phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp; nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu và bảo đảm quyền lợi gia đình; phát sinh và chấm dứt phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân.
- Phân định tài sản theo luật định: Căn cứ Điều 33 Luật HNGĐ 2014 và Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP (thu nhập hợp pháp khác gồm tiền thưởng, trúng số, trợ cấp trừ trợ cấp ưu đãi người có công; tài sản vô chủ, bị chôn giấu, chìm đắm, đánh rơi, bỏ quên, gia súc gia cầm thất lạc); Điều 43 Luật HNGĐ 2014 và Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP (tài sản riêng gồm tài sản có trước kết hôn, thừa kế/tặng cho riêng, chia riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản theo bản án riêng, trợ cấp người có công).
- Chế độ tài sản theo thỏa thuận: Được xác lập bằng văn bản trước khi kết hôn, có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn; có thể sửa đổi, bổ sung trong thời kỳ hôn nhân nhưng phải tuân thủ điều kiện luật định.
- Bản chất và ý nghĩa giải quyết tranh chấp: Là hoạt động tố tụng tư pháp do Tòa án nhân dân thực hiện (tổ chức theo 4 cấp theo Luật Tổ chức TAND 2014), bảo đảm thi hành bằng quyền lực cưỡng chế nhà nước. Ý nghĩa: bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ, chồng, con chưa thành niên, người thứ ba; tiết kiệm thời gian, chi phí; giảm thiểu xung đột tâm lý hậu ly hôn.
-
Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn:
- Khi lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận: Khoản 1 Điều 59 Luật HNGĐ 2014 và điểm b khoản 1 Điều 7 TTLT 01/2016 quy định áp dụng nội dung văn bản thỏa thuận nếu không bị Tòa án tuyên vô hiệu; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì mới áp dụng các quy định tương ứng của chế độ luật định.
- Khi áp dụng chế độ tài sản theo luật định:
- Ưu tiên tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp của vợ chồng.
- Tài sản chung về nguyên tắc chia đôi nhưng phải tính đến 4 yếu tố căn cứ: (a) Hoàn cảnh gia đình và của vợ, chồng (bên khó khăn hơn được ưu tiên); (b) Công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung (người ở nhà làm nội trợ, chăm sóc con cái được tính như lao động có thu nhập tương đương người đi làm); (c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên tiếp tục có điều kiện lao động tạo thu nhập; (d) Yếu tố lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nhận hiện vật có giá trị lớn hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia.
- Tài sản riêng của bên nào thuộc sở hữu của bên đó, trừ trường hợp đã sáp nhập, trộn lẫn hoặc nhập vào khối tài sản chung.
-
Giải quyết trong một số trường hợp cụ thể: Phân tích cơ chế giải quyết khi sống chung với gia đình (Điều 61 - xác định theo phần hoặc trích chia theo công sức); phân chia quyền sử dụng đất nông nghiệp và đất ở (Điều 62); chia tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh (Điều 64); nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba (Điều 60 - đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng).
Chương 2: Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn và đề xuất một số kiến nghị
Chương 2 trình bày thực trạng áp dụng pháp luật, phân tích án điểm và đưa ra hệ thống kiến nghị:
-
Nhận xét chung và các bất cập pháp lý:
- Bất cập về chế độ tài sản theo thỏa thuận: Điều 47 Luật HNGĐ 2014 chỉ cho phép xác lập thỏa thuận trước khi kết hôn, triệt tiêu quyền tự do thỏa thuận chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Khóa luận so sánh với pháp luật Cộng hòa Dân chủ Đức, Hoa Kỳ và Đạo luật Gia đình Úc (Điều 90B, 90C cho phép giao kết thỏa thuận trước, trong thời kỳ hôn nhân và sau ly hôn). Ngoài ra, Điều 48 Luật HNGĐ và Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP mới chỉ dừng lại ở thỏa thuận tài sản mà chưa bao quát các nội dung nhân thân, con cái hoặc chế tài phạt vi phạm nghĩa vụ vợ chồng.
- Bất cập trong xác định tài sản chung và riêng: Khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ 2014 quy định hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là tài sản chung, mâu thuẫn với quyền hưởng hoa lợi của chủ sở hữu theo Điều 192 BLDS 2015. Khóa luận nêu quan điểm: chỉ nên coi là tài sản chung nếu chủ sở hữu tự nguyện nhập vào hoặc khi hoa lợi đó là nguồn sống duy nhất của gia đình. Thực tế việc chứng minh tài sản riêng khi sống chung nhiều năm rất phức tạp, thẩm phán chủ yếu đánh giá cảm tính.
- Bất cập về xác định công sức đóng góp: Tiêu chí xác định đóng góp hiện mang nặng tính định tính, chưa có bộ tiêu chuẩn định lượng cụ thể tỷ lệ phần trăm phân chia.
- Bất cập về yếu tố lỗi: Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 59 và Điều 7 TTLT 01/2016 chỉ tính "lỗi trực tiếp dẫn đến ly hôn" là thiếu thực tiễn, không khả thi. Mâu thuẫn gia đình thường diễn biến phức tạp, bắt nguồn từ cả hai phía theo chuỗi nguyên nhân - kết quả đan xen (chồng không quan tâm thì vợ ngoại tình, hoặc vợ xúc phạm dẫn đến chồng bỏ bê), Tòa án không thể cân đo chính xác mức độ lỗi để quy ra tỷ lệ tài sản.
- Bất cập về nghĩa vụ nợ và tranh chấp bất động sản: Các giao dịch vay mượn phục vụ gia đình chủ yếu bằng miệng; việc tặng cho nhà đất của cha mẹ không lập văn bản có công chứng/chứng thực hoặc không đăng ký biến động theo Điều 459, Điều 503 BLDS 2015 và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013; khi ly hôn cha mẹ thường đòi lại đất, gây kéo dài quá trình thu thập chứng cứ.
-
Phân tích thực tiễn qua 03 bản án cụ thể:
| Tiêu chí |
Bản án số 22/2023/HNGĐ-ST |
Bản án số 22/2022/HNGĐ-ST (20/05/2022) |
Bản án số 27/2023/HNGĐ-PT (08/09/2023) |
| Đương sự |
Ông Dương Viết T và bà Nguyễn Thị T (Nam Định) |
Nguyên đơn: bà Tạ Thị Quỳnh M; Bị đơn: ông Bùi Văn T |
Anh Trần Văn K và chị Phan Thị H (Hải Dương) |
| Đối tượng tranh chấp |
Quyền sử dụng đất bồi thường (thửa 88m² sau chùa O và thửa 56m² tại khu tái định cư D, TP Nam Định) cùng nhà 2 tầng xây năm 2013 (700 triệu đồng). Đất gốc 49m² tại 136 đường G là tài sản riêng của ông T từ năm 1998. |
01 nhà 3 tầng diện tích 100m² trên thửa 288 (tờ bản đồ 56) và khoản nợ chung 520.000.000 đồng của 05 cá nhân (bà Thạch Thị S 270 triệu; ông Chu Văn Tr 100 triệu; ông Hồ Thúc T và bà Chu Thị L 100 triệu; ông Hồ Th 20 triệu; ông Lê Văn H 30 triệu). |
04 thửa đất: thửa 168 (243m² có nhà 2,5 tầng xây năm 2010 hết 600 triệu), thửa 169 (370m²), thửa 82 (120m²), thửa 237 (120m²). |
| Phán quyết của Tòa án |
Xác định ông T có công sức nhiều hơn, chia tài sản chung tổng giá trị 1.354.636.800 đồng theo tỷ lệ: ông T hưởng 70% (948.245.760 đồng), bà Th hưởng 30% (406.391.040 đồng). |
Chấp nhận toàn bộ nợ chung 520 triệu đồng; buộc ông T và bà M mỗi người trả 1/2 (riêng khoản nợ bà S mỗi người trả 135 triệu đồng, nợ ông Tr mỗi người trả 50 triệu đồng). |
Xác định thửa 168 và ngôi nhà là tài sản riêng của anh K (do mẹ tặng riêng năm 2005); không chấp nhận yêu cầu chia đất của chị H do không có văn bản nhập tài sản chung và đăng ký biến động. Ghi nhận tiền tôn tạo nhà là tài sản chung. |
| Đánh giá của tác giả |
Phán quyết mang tính chủ quan của Thẩm phán khi không giải thích căn cứ định lượng mức 70/30; Tòa án bỏ sót hoàn toàn yếu tố lỗi khi cả hai bên đều vi phạm nghĩa vụ nhân thân (bà Th không chăm sóc khi ông T tai biến; ông T thường xuyên đánh đập vợ). |
Phán quyết thỏa đáng, chính xác. Mặc dù các khoản nợ của bà S và ông Tr không có giấy vay tiền, Tòa án đã đối chiếu logic thời điểm làm nhà và số tiền thực tế để bảo vệ quyền lợi chủ nợ. |
Phán quyết chính xác, đúng pháp luật đất đai và hôn nhân gia đình; Tòa án đã xem xét thấu đáo công sức đóng góp của chị H trong việc gìn giữ, tôn tạo tài sản để tính công sức thành tài sản chung. |
- Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Hoàn thiện chế độ tài sản theo thỏa thuận: Ban hành quy định hướng dẫn cụ thể việc xác định tài sản chung và riêng hình thành trong thời kỳ hôn nhân; nghĩa vụ đóng góp tài sản và chăm sóc con cái hàng ngày. Sửa đổi quy định theo hướng cho phép vợ chồng kết hôn từ 02 năm trở lên có quyền sửa đổi nội dung văn bản thỏa thuận nếu có điều khoản ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ, chồng, con cái, vừa bảo đảm quyền tự do định đoạt vừa ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
- Minh bạch hóa thông tin tài sản: Bổ sung thông tin về chế độ tài sản của vợ chồng trên Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nếu hai bên đã lập văn bản thỏa thuận trước đó, nhằm bảo đảm sự an toàn và quyền lợi cho người thứ ba khi tham gia giao dịch.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên việc tổng hợp số liệu pháp lý và phân tích án thực tế:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ chế điều chỉnh của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm rõ điểm tiến bộ của chế định thỏa thuận tài sản và 5 nguyên tắc chia tài sản theo luật định tại Điều 59.
- Phân tích chi tiết số liệu phán quyết từ 03 bản án thực tế: chỉ ra sự thiếu hụt tiêu chí định lượng khi Tòa án phân chia tỷ lệ 70% (948.245.760 đồng) và 30% (406.391.040 đồng) trên tổng khối tài sản 1.354.636.800 đồng trong Bản án số 22/2023/HNGĐ-ST; chứng minh tính hợp lý của việc xác định 520.000.000 đồng nợ chung không qua văn bản trong Bản án số 22/2022/HNGĐ-ST; làm rõ điều kiện pháp lý về việc nhập tài sản riêng đối với diện tích đất 243m² tại Bản án số 27/2023/HNGĐ-PT.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Đi sâu vào khía cạnh áp dụng chế định tài sản của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thực tế; chứng minh tính thiếu khả thi của quy định về "yếu tố lỗi" (điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ 2014 và TTLT 01/2016); đề xuất giải pháp có tính kỹ thuật lập pháp như mốc thời gian 02 năm sau kết hôn để sửa đổi thỏa thuận tài sản và bổ sung ghi chú chế độ tài sản trên Giấy đăng ký kết hôn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi nghiên cứu đã công bố, khóa luận không khảo sát các vụ án tranh chấp tài sản hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Nguồn dữ liệu thực tiễn chủ yếu tập trung vào 03 bản án cụ thể tại Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh thuộc địa bàn Nam Định, Hải Dương, chưa bao quát toàn bộ thực tiễn xét xử trên phạm vi cả nước. Phần giải pháp chưa xây dựng được bảng công thức định lượng chi tiết cho từng mức tỷ lệ phần trăm công sức đóng góp.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang các tranh chấp tài sản có yếu tố nước ngoài; xây dựng bộ tiêu chí định lượng hóa công sức đóng góp và yếu tố lỗi; nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại do hành vi che giấu, tẩu tán tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình tham khảo phương pháp phân tích quy phạm kết hợp bình luận bản án thực tế.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và người thực hành pháp luật tham khảo phần đánh giá lập luận xét xử liên quan đến xác định nghĩa vụ nợ bằng miệng (Bản án 22/2022), việc xác định ranh giới giữa tài sản riêng và tài sản chung đối với đất được tặng cho trước hôn nhân (Bản án 27/2023).
- Phần đáng tham khảo nhất là mục 2.1 về các bất cập trong xác định công sức đóng góp, yếu tố lỗi và các kiến nghị tại mục 2.2 về việc công khai tình trạng tài sản trên Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả cho rằng quy định căn cứ vào "yếu tố lỗi" tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thiếu tính khả thi trên thực tế?
Tác giả chỉ ra rằng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP chỉ dừng lại ở việc diễn giải lại điều luật mà không đưa ra được tiêu chí định lượng tỷ lệ phần trăm tài sản tương ứng. Hơn nữa, quy định chỉ xét lỗi trực tiếp dẫn đến ly hôn là bất hợp lý, bởi mâu thuẫn gia đình trên thực tế thường là chuỗi nguyên nhân đan xen từ cả hai phía (chồng bỏ bê thì vợ ngoại tình; vợ xúc phạm thì chồng không quan tâm), khiến Tòa án không thể cân đo ai lỗi nhiều hơn ai để chia tài sản.
2. Trong Bản án số 22/2023/HNGĐ-ST, Tòa án đã phân chia khối tài sản chung trị giá 1.354.636.800 đồng như thế nào và tác giả có nhận xét gì?
Hội đồng xét xử chia cho ông Dương Viết T hưởng 70% giá trị tài sản chung (tương đương 948.245.760 đồng) và bà Nguyễn Thị T hưởng 30% (tương đương 406.391.040 đồng). Tác giả nhận xét phán quyết mang tính chủ quan vì Tòa án không giải thích căn cứ cụ thể cho tỷ lệ chênh lệch 70/30 này, đồng thời bỏ sót hoàn toàn yếu tố lỗi khi cả hai bên đều vi phạm nghĩa vụ vợ chồng (bà Th không chăm sóc ông T khi ốm đau, còn ông T thường xuyên đánh đập vợ).
3. Tòa án đã xử lý khoản nợ 520 triệu đồng trong Bản án số 22/2022/HNGĐ-ST ra sao khi các khoản vay của bà S và ông Tr không có giấy tờ biên nhận?
Tòa án vẫn xác định khoản nợ 270 triệu đồng của bà Thạch Thị S và 100 triệu đồng của ông Chu Văn Tr là nợ chung của vợ chồng (cùng với các khoản nợ có giấy tờ khác để đủ 520 triệu đồng). Căn cứ xác định là thời gian vay mượn thực tế hoàn toàn trùng khớp với giai đoạn ông T và bà M làm nhà 3 tầng, và nếu không vay mượn thêm thì số tiền hai vợ chồng tích lũy không thể đủ để hoàn thiện công trình. Tòa buộc mỗi người chịu trách nhiệm trả một nửa khoản nợ.
4. Khóa luận chỉ ra điểm hạn chế gì của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về thời điểm xác lập thỏa thuận chế độ tài sản so với pháp luật quốc tế?
Điều 47 Luật HNGĐ 2014 quy định thỏa thuận về chế độ tài sản bắt buộc phải lập trước khi kết hôn; sau khi kết hôn vợ chồng không còn quyền lựa chọn chế độ tài sản thỏa thuận nữa mà chỉ được sửa đổi, bổ sung văn bản đã có. Trong khi đó, Đạo luật Gia đình Úc (Điều 90B, 90C), pháp luật Đức và Hoa Kỳ cho phép các bên xác lập thỏa thuận tài sản linh hoạt ở cả ba thời điểm: trước hôn nhân, trong thời kỳ hôn nhân và sau khi ly hôn.
5. Tác giả kiến nghị điều kiện gì đối với việc sửa đổi văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng?
Tác giả đề xuất quy định vợ chồng kết hôn từ 02 năm trở lên mới có quyền sửa đổi nội dung văn bản thỏa thuận chế độ tài sản nếu nội dung đó ảnh hưởng đến lợi ích của vợ chồng hoặc con cái. Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định của các quan hệ tài sản và ngăn ngừa hành vi sửa đổi thỏa thuận nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực tiễn xét xử tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Thông qua việc phân tích toàn diện các quy phạm thực định đối chiếu với 03 bản án cụ thể, công trình đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý nổi cộm về chế độ tài sản thỏa thuận, tiêu chí công sức đóng góp và tính thiếu khả thi của yếu tố lỗi. Các đề xuất hoàn thiện quy định về thời điểm sửa đổi thỏa thuận và công khai thông tin tài sản trên giấy đăng ký kết hôn có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động áp dụng pháp luật tại Tòa án.