Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, bên cạnh yếu tố tình cảm thì yếu tố vật chất – tài sản đóng vai trò là nền tảng kinh tế cơ bản giúp duy trì đời sống chung, bảo đảm sự gắn kết giữa các thành viên và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của gia đình. Trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời, pháp luật Việt Nam chủ yếu duy trì chế độ tài sản theo luật định mang tính thuần nhất. Việc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chính thức ghi nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tồn tại song song với chế độ tài sản luật định đã đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong tư duy lập pháp, hiện thực hóa quyền tự do định đoạt tài sản cá nhân được Hiến pháp và pháp luật dân sự bảo vệ.
Quy định này cho phép các bên chuẩn bị kết hôn chủ động thiết lập phương thức quản lý, định đoạt khối tài sản chung và riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, đầu tư trong nền kinh tế thị trường, đồng thời giảm thiểu các xung đột phức tạp, kéo dài khi phân chia tài sản lúc ly hôn. Tuy nhiên, sau một thời gian thi hành, các quy phạm điều chỉnh chế độ tài sản theo thỏa thuận đã bộc lộ một số vướng mắc, thiếu đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan và còn khoảng cách so với chuẩn mực lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp hay Thái Lan. Trên cơ sở đó, tác giả Lê Đức Hưng thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá toàn diện chế định này dưới góc độ lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận gồm:
- Làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và tiến trình phát triển của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong lịch sử lập pháp Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế (Pháp, Thái Lan).
- Phân tích, luận giải chi tiết hệ thống quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành điều chỉnh chế độ tài sản theo thỏa thuận từ khâu xác lập, nội dung, sửa đổi, bổ sung đến tuyên bố vô hiệu và chấm dứt.
- Đánh giá thực trạng áp dụng, chỉ rõ các hạn chế, vướng mắc pháp lý và nguyên nhân; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lý luận, các quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận và thực tiễn thi hành chế định này.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay (trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP), kết hợp nghiên cứu so sánh đối chiếu với Bộ luật Dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về quyền sở hữu tài sản, quyền tự do giao kết hợp đồng và các nguyên tắc bảo vệ trật tự gia đình trong khoa học luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình. Cơ sở pháp lý trực tiếp được trích xuất từ:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 (đặc biệt là Điều 17 về quyền tài sản và quyền tham gia quan hệ dân sự).
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều 28, 29, 30, 31, 32, 47, 48, 49, 50, 59 đến 64).
- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 7).
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Văn bản pháp luật lịch sử: Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Tập dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Luật Gia đình 1959 (miền Nam), Sắc luật số 15/64, Bộ Dân luật 1972 (miền Nam), Sắc lệnh số 90-SL ngày 10/10/1945, Sắc lệnh số 97 ngày 22/5/1950, Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959 (miền Bắc), 1986, 2000 và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP.
- Văn bản pháp luật nước ngoài: Bộ luật Dân sự Pháp (các điều 1387, 1394, 1395, 1397, 1399, 1404, 1498); Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (các điều 1465, 1466, 1467, 1468).
- Nguồn tài liệu học thuật kế thừa: Các công trình của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ (2005, 2012, 2015, 2021), PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện và TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2016), ThS. Nguyễn Phương Thảo (2015), ThS. Nguyễn Thị Thúy Hồng (2018), ThS. Nguyễn Hương Giang (2017), ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy (2015), ThS. Ngô Thị Anh Vân (2016), ThS. Vương Ngọc Oánh (2021), ThS. Lê Thị Dung (2016).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được vận dụng xuyên suốt đề tài để bóc tách nội dung từng điều luật thực định, tổng hợp các quan điểm pháp lý học thuật đa chiều nhằm làm sáng tỏ bản chất của chế định tài sản ước định.
- Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng để so sánh tiến trình lập pháp Việt Nam qua các mốc lịch sử khác nhau, đồng thời đối chiếu cơ chế quản lý, đăng ký và sửa đổi thỏa thuận tài sản của Việt Nam với mô hình pháp luật của Pháp và Thái Lan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Chương này tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích đặc điểm, ý nghĩa kinh tế - xã hội của chế độ tài sản theo thỏa thuận, đồng thời tái hiện bức tranh lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế:
- Khái niệm và đặc điểm: Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là hệ thống quy phạm điều chỉnh quan hệ tài sản được xác lập dựa trên văn bản thỏa thuận của nam và nữ trước khi kết hôn, bao gồm căn cứ xác định khối tài sản chung - riêng, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản và nguyên tắc phân chia khi chấm dứt chế độ. Đặc trưng cốt lõi gồm: chủ thể bắt buộc phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp; chế độ chỉ phát sinh và tồn tại trong thời kỳ hôn nhân; vận hành trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng; phải lập bằng văn bản trước kết hôn; có thể sửa đổi bổ sung; và luôn đặt dưới sự giới hạn nhằm bảo vệ nhu cầu thiết yếu của gia đình cùng quyền lợi người thứ ba.
- Ý nghĩa: Tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản; phù hợp với xu thế quốc tế khi gia tăng các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài; thúc đẩy tự do kinh doanh trong kinh tế thị trường; hạn chế các cuộc hôn nhân vụ lợi; bảo vệ giao dịch dân sự với bên thứ ba; và hỗ trợ Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản nhanh chóng.
- Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam:
| Thời kỳ lịch sử |
Văn bản / Nguồn luật tiêu biểu |
Đặc điểm chế độ tài sản vợ chồng |
| Phong kiến |
Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) |
Áp dụng chế độ luật định. Luật Hồng Đức quy định chế độ toàn sản cộng đồng có phân biệt tài sản riêng (Điều 401). Luật Gia Long bãi bỏ quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chịu ảnh hưởng của luật nhà Thanh. |
| Pháp thuộc (1858-1945) |
Dân luật Bắc Kỳ 1931 (Đ.104), Dân luật Trung Kỳ 1936 (Đ.102), Tập dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883 |
Lần đầu tiên thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận (hôn ước). Thỏa thuận lập trước hôn nhân, phải lập thành chứng thư, không được trái phong tục và quyền gia trưởng của người chồng, không được sửa đổi sau cưới. |
| 1945 - 1977 (Miền Nam) |
Luật Gia đình 1959 (Đ.45-46), Sắc luật 15/64 (Đ.50-52), Dân luật 1972 (Đ.144-149) |
Ghi nhận song song chế độ luật định và thỏa thuận. Yêu cầu lập trước công chứng viên, ghi chú vào hôn thú để đối kháng bên thứ ba. Dân luật 1972 không cho phép sửa đổi trong thời kỳ hôn nhân. |
| 1945 - 1977 (Miền Bắc) |
Sắc lệnh 90-SL, Sắc lệnh 97, Luật Hôn nhân và gia đình 1959 (Đ.15) |
Chỉ thừa nhận duy nhất chế độ tài sản theo luật định; đề cao tính cộng đồng toàn sản, không thừa nhận chế độ tài sản ước định cá nhân. |
| Sau thống nhất (1977-2014) |
Nghị quyết 76-CP, Luật HNGĐ 1986 (Đ.16), Luật HNGĐ 2000, Nghị định 70/2001/NĐ-CP |
Duy trì chế độ tài sản luật định nhưng chuyển dịch từ cộng đồng toàn sản sang cộng đồng tạo sản. Luật 2000 cho phép chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (tiền đề cho chế độ thỏa thuận). |
| Hiện hành (từ 2014) |
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Đ.28) |
Chính thức ghi nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận tồn tại bình đẳng, song song với chế độ tài sản theo luật định. |
- Kinh nghiệm pháp luật quốc tế:
- Pháp (Bộ luật Dân sự): Cho phép lựa chọn giữa các mô hình tài sản định sẵn (Cộng đồng toàn sản, Cộng đồng động sản và hoa lợi tạo sản, Biệt sản, Chế độ thặng dư/đóng góp). Thỏa thuận phải lập qua công chứng trước hôn lễ và bắt buộc ghi chú vào Giấy chứng nhận kết hôn (Điều 1394). Việc sửa đổi sau 2 năm phải lập bằng văn bản công chứng, vì lợi ích gia đình, thông báo cho chủ nợ, con đã thành niên và phải được Tòa án phê chuẩn nếu có con chưa thành niên hoặc có khiếu nại (Điều 1397).
- Thái Lan (Bộ luật Dân sự và Thương mại): Thỏa thuận tiền hôn nhân phải lập thành văn bản với ít nhất 02 nhân chứng, phải nộp và đính kèm vào Sổ đăng ký kết hôn tại thời điểm đăng ký (Điều 1466). Mọi sửa đổi sau khi kết hôn bắt buộc phải có phán quyết cho phép từ Tòa án (Điều 1467). Quyền của bên thứ ba ngay tình luôn được bảo vệ tuyệt đối (Điều 1468).
Chương 2: Nội dung của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Chương này đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định chi phối chế độ tài sản theo thỏa thuận:
- Các quy định chung mang tính bắt buộc (Điều 28 đến 32 Luật HNGĐ 2014):
- Nguyên tắc áp dụng (Điều 28 Luật HNGĐ 2014, Điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP): Chế độ thỏa thuận phải xác lập trước hôn nhân bằng văn bản công chứng/chứng thực. Áp dụng chế độ luật định nếu các bên không lập thỏa thuận hoặc thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
- Nguyên tắc chung (Điều 29): Vợ chồng bình đẳng về quyền, nghĩa vụ trong tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động có thu nhập và lao động nội trợ gia đình. Hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp phải bồi thường thiệt hại.
- Bảo đảm nhu cầu thiết yếu (Điều 30): Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện giao dịch phục vụ nhu cầu ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh của gia đình. Khi tài sản chung không đủ, mỗi bên có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng tương ứng với khả năng tài chính của mình.
- Giao dịch liên quan đến nhà ở duy nhất (Điều 31): Mọi giao dịch xác lập, thực hiện, chấm dứt liên quan đến nhà ở là nơi cư trú duy nhất của vợ chồng đều phải có sự đồng thuận của cả hai người, kể cả trường hợp nhà ở đó thuộc sở hữu riêng của một bên.
- Bảo vệ người thứ ba ngay tình (Điều 32): Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình, người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán hoặc người đang chiếm hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu được suy đoán là người có toàn quyền xác lập giao dịch.
- Xác lập, sửa đổi, vô hiệu và chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận:
- Xác lập: Phải lập trước khi kết hôn, tuân thủ hình thức công chứng hoặc chứng thực; phát sinh hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn tại cơ quan hộ tịch có thẩm quyền (Điều 47, Điều 48). Nội dung bao gồm phân định tài sản chung/riêng, quyền và nghĩa vụ đối với từng khối tài sản, nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ.
- Sửa đổi, bổ sung: Vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân. Văn bản sửa đổi phải được công chứng, chứng thực và có hiệu lực từ ngày công chứng/chứng thực (Điều 49).
- Tuyên bố vô hiệu (Điều 50): Thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc một phần khi vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Bộ luật Dân sự, vi phạm nguyên tắc bình đẳng, trốn tránh nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba, tước bỏ quyền được bảo đảm chỗ ở hoặc vi phạm nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Chấm dứt chế độ: Xảy ra khi một bên vợ/chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết; khi có bản án/quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật của Tòa án (áp dụng Điều 59); hoặc trong trường hợp Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
- Thực tiễn áp dụng và bất cập:
- Do ảnh hưởng sâu sắc của tâm lý truyền thống Á Đông, việc ký kết văn bản thỏa thuận tài sản tiền hôn nhân tại Việt Nam vẫn bị coi là toan tính vật chất, ảnh hưởng đến tình cảm lứa đôi, dẫn đến số lượng cặp đôi lựa chọn chế độ này còn thấp.
- Pháp luật Việt Nam chưa có cơ chế công khai hóa chế độ tài sản của vợ chồng (như việc ghi chú vào Giấy chứng nhận kết hôn hoặc sổ bộ hộ tịch như mô hình của Pháp, Thái Lan), khiến bên thứ ba khi tham gia giao dịch gặp khó khăn trong việc nhận biết và đối mặt với rủi ro pháp lý.
- Quy định về sửa đổi, bổ sung thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân còn thiếu cơ chế kiểm soát tư pháp chặt chẽ, dễ bị lợi dụng để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ với chủ nợ hoặc làm tổn hại quyền lợi của con chưa thành niên.
- Tiêu chí xác định thỏa thuận "nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản" để tuyên bố vô hiệu theo Điều 50 còn chung chung, thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết về gánh nặng chứng minh và thời hiệu khởi kiện.
- Kiến nghị hoàn thiện và giải pháp nâng cao hiệu quả:
- Bổ sung quy định bắt buộc ghi chú tình trạng lựa chọn chế độ tài sản (luật định hay thỏa thuận) vào Giấy chứng nhận kết hôn và Cơ sở dữ liệu hộ tịch quốc gia nhằm minh bạch hóa thông tin đối kháng với bên thứ ba.
- Học tập kinh nghiệm của Pháp và Thái Lan trong việc thiết lập cơ chế kiểm soát tư pháp: quy định các trường hợp sửa đổi thỏa thuận tài sản lớn hoặc liên quan đến nghĩa vụ trả nợ, quyền lợi con chưa thành niên phải có sự phê chuẩn của Tòa án hoặc thông báo công khai cho chủ nợ.
- Ban hành văn bản quy phạm hướng dẫn cụ thể các căn cứ tuyên bố vô hiệu thỏa thuận tài sản do trốn tránh nghĩa vụ đối với bên thứ ba.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm thay đổi nhận thức xã hội về tính văn minh, bình đẳng và an toàn pháp lý của chế độ tài sản ước định.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý luận và lịch sử lập pháp về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại Việt Nam qua các thời kỳ: phong kiến, Pháp thuộc, chia cắt hai miền (1945-1977), thời kỳ đổi mới và giai đoạn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Luận giải có hệ thống cơ chế vận hành của chế định tài sản ước định thực định, chỉ rõ mối liên kết giữa các điều khoản bắt buộc (Điều 28-32) và quy chế xác lập, sửa đổi, vô hiệu (Điều 47-50).
- Trích xuất bài học kinh nghiệm lập pháp so sánh giá trị từ Bộ luật Dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự & Thương mại Thái Lan về thủ tục đăng ký công khai tại cơ quan hộ tịch và cơ chế Tòa án giám sát việc sửa đổi thỏa thuận.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp thực chất nhằm khắc phục các khoảng trống pháp lý của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về bảo vệ người thứ ba và kiểm soát sửa đổi hôn ước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích quy phạm lập pháp, lý luận so sánh và đối chiếu các văn bản pháp luật thực định; việc thu thập dữ liệu thống kê xét xử thực tế và án lệ cụ thể tại Tòa án các cấp về tranh chấp thỏa thuận tài sản còn hạn chế do chế định này tại Việt Nam trong giai đoạn 2014-2022 vẫn chưa được áp dụng phổ biến trong đại bộ phận người dân.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo cứu thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp tài sản hôn ước có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu cơ chế kết nối dữ liệu số hóa giữa công chứng, đăng ký bất động sản, tài khoản ngân hàng và hộ tịch đối với tài sản vợ chồng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng và kỹ thuật lập pháp so sánh.
- Các công chứng viên, luật sư tư vấn trong việc soạn thảo, thẩm định các văn bản thỏa thuận xác lập và sửa đổi chế độ tài sản tiền hôn nhân.
- Thẩm phán, kiểm sát viên tham khảo cơ sở lý luận khi giải quyết các tranh chấp phân chia tài sản ly hôn hoặc yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận vô hiệu.
- Phần đáng tham khảo nhất là nội dung so sánh pháp luật Pháp - Thái Lan (Chương 1) và hệ thống phân tích các điều khoản bắt buộc bảo vệ người thứ ba ngay tình (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 phải được xác lập vào thời điểm nào và dưới hình thức gì?
Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bắt buộc phải được lập trước khi kết hôn và phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Thỏa thuận này chính thức phát sinh hiệu lực kể từ ngày hai bên đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Khi lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, vợ chồng có được tự do thỏa thuận mọi nội dung mà không chịu ràng buộc nào không?
Không. Thỏa thuận của vợ chồng vẫn bị ràng buộc bởi các quy định chung mang tính bắt buộc tại các điều 28, 29, 30, 31, 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể, các bên không được thỏa thuận trái với nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng, không được trốn tránh nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, không được tự ý định đoạt nhà ở là nơi cư trú duy nhất mà không có sự đồng thuận của bên kia, và phải tôn trọng quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
3. Pháp luật Cộng hòa Pháp và Thái Lan có cơ chế công khai thỏa thuận tài sản vợ chồng như thế nào?
Tại Pháp, chứng thư công chứng về hôn ước bắt buộc phải nộp cho công chức hộ tịch trước khi làm lễ cưới và phải được ghi chú trực tiếp vào Giấy chứng nhận kết hôn (Điều 1394 Bộ luật Dân sự Pháp). Tại Thái Lan, thỏa thuận tài sản tiền hôn nhân phải có ít nhất 02 nhân chứng, phải được nộp tại thời điểm đăng ký kết hôn và đính kèm vào Sổ đăng ký kết hôn như một phụ lục bắt buộc (Điều 1466 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan) để bảo đảm tính công khai, minh bạch đối với bên thứ ba.
4. Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong giai đoạn nào?
Chế độ tài sản theo thỏa thuận (hôn ước) lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong thời kỳ Pháp thuộc, được quy định cụ thể tại Điều 104 Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Điều 102 Dân luật Trung Kỳ năm 1936 dưới sự ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Napoleon của Pháp.
5. Theo Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ ra sao đối với tài khoản ngân hàng và chứng khoán?
Điều 32 quy định trong các giao dịch với người thứ ba ngay tình, người vợ hoặc người chồng đứng tên chủ tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản chứng khoán được suy đoán là người có toàn quyền xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đó. Người thứ ba khi giao kết không bắt buộc phải xác minh tình trạng hôn nhân của chủ tài khoản và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Đức Hưng đã phân tích toàn diện và sâu sắc chế định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trên cả ba bình diện lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn. Nghiên cứu đã làm nổi bật giá trị tiến bộ của chế định trong việc bảo đảm quyền tự do định đoạt tài sản cá nhân và thích ứng với nền kinh tế thị trường, đồng thời chỉ ra các khoảng trống pháp lý so với chuẩn mực quốc tế. Các kiến nghị lập pháp về cơ chế đăng ký hộ tịch công khai và giám sát tư pháp việc sửa đổi thỏa thuận được đề xuất là cơ sở khoa học có giá trị tham khảo thực tiễn cao cho tiến trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.