Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE GIẢI QUYẾT YÊU CÂU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN 1. Khái niệm, đặc điểm giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn 1. Khái niệm giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm ditt quan hệ vợ chong theo ban an, quyết định có hiệu lực pháp luật cua Tòa an’. Theo trang 372 Từ điển luật học thì “Thudn tinh ly hôn là vợ chong cùng yêu cau Tòa án nhân dân cho phép họ được ly hôn” Thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trong trường hợp vợ chong cùng yêu cau ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo duc con trên cơ sở bảo đảm quyên lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyên lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.
Như vậy có thể hiểu thuận tình ly hôn là vợ chồng tự nguyện cùng thống nhất ly hôn và yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn. Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định những yêu cầu về hôn và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trong đó khoản 2 đề cập đến “Yêu cẩu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài san khi ly hon”. Mặt khác Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Việc dân sự là việc cơ quan, tô chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu câu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự ? Viện khoa học pháp ly Bộ Tư pháp (2006), Tir điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa và NXB Tư pháp, Hà Nội. kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tô chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Những quy định của Phân này được áp dụng để giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29, các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31, các khoản 1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này. Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của Bộ luật này dé giải quyết việc dân sự. Như vậy, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn là một trong số những loại việc dân sự yêu cau về hôn nhân và gia đình thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án, do đó thủ tục yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn có những đặc điểm chung của thủ tục giải quyết việc dân sự: Thứ nhất, đương sự trong việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn được xác định với tư cách tố tụng là người yêu cầu, không phân biệt là nguyên đơn, bị đơn như trong vụ án ly hôn. Thứ hai, đương sự trong việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp vì giữa các đương sự đã có sự thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc ly hôn và các van đề có liên quan.
Đây là đặc điểm đề phân biệt giữa việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và vụ án ly hôn. Thứ ba, từ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của đương sự, Tòa án sẽ công nhận hoặc không công nhận mà từ đó làm phát sinh quyên và nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình. Qua phân tích trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm: Giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn là việc Tòa án áp dụng các quy định của pháp luật để công nhận hoặc không công nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của đương sự. Đặc điểm, cơ sở và ý nghĩa của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn 1.
Đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cẩu công nhận thuận tình ly hôn Việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn có các đặc điểm sau: Thứ nhất, thời hạn tố tụng của việc giải quyết yêu cau công nhận thuận tình ly hôn được quy định ngắn hơn so với thời hạn tố tụng giải quyết vụ án ly hôn. Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án ly hôn là 04 tháng, đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì có thé gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử không quá 02 tháng. Còn đối với việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì thời hạn chuẩn bị xét đơn là 01 tháng. Trước đây, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định riêng về thời hạn giải quyết nên Tòa án áp dụng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án ly hôn để giải quyết do đó đã không thê hiện được tính đơn giản, nhanh gọn của thủ tục giải quyết việc dân sự.
Thứ hai, thành phan giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn ở cấp sơ thâm không có sự tham gia của Hội thâm nhân dân mà doThâm phán được phân công giải quyết đơn tiến hành và Kiểm sát viên chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật t6 tung thông qua các văn bản tố tụng mà pháp luật quy định Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát chứ không phải tham gia nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu như đối với thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Thứ ba, đối với việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Thâm phán không phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ như trong vụ án ly hôn vì bản chất của việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn là không có tranh chấp, các tình tiết, sự kiện trong việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn đã được các đương sự thừa nhận và thống nhất ý chí ngay từ khi viết đơn và nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết nên việc công khai tài liệu chứng cứ cho các đương sự là không cần thiết. Thứ tu, Tham phán giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tiến hành hòa giải dé vợ chồng đoàn tụ và từ kết quả hòa giải đưa ra các quyết định giải quyết yêu cầu còn trong vụ án ly hôn trường hợp tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ các tranh chấp có trong vụ án thì Tòa án sẽ mở phiên tòa, đưa vụ án ra xét xử và kết quả giải quyết vụ án ly hôn được thể hiện dưới hình thức là một bản án. Thứ năm, thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn ngắn hơn so với thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án ly hôn.
Riêng đối với quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự được giải quyết theo việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hay vụ án ly hôn thì các quyết định đó đều có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm. Cơ sở của quy định giải quyết yêu cau công nhận thuận tình ly hôn Thứ nhất, về cơ sở lý luận, dé phù hợp với quá trình đổi mới công tác xây dựng pháp luật và chương trình cải cách hành chính. Đây là công tác quan trong dé đáp ứng được yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã được ban hành và thực hiện. Trong đó, Nghị quyết đưa ra phương hướng cải cách tư pháp: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dán, do nhán dân, vì nhân dán; hoàn thiện các thủ tục tô tụng tư pháp, bảo đảm tinh đông bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” và một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp là “7:iép tục hoàn thiện thủ tục tổ tụng dân sự.
Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyển và lợi ich hợp pháp của mình. Đối mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo diéu kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến tòa án, tòa án có trách nhiệm nhận và thụ ly don. Khuyén khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoa giải, trọng tài; tòa án hồ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Từ phương hướng và nhiệm vụ cụ thé nêu trên của cải cách tư pháp thì thấy việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện quy định về giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn là đòi hỏi tất yếu để phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Thứ hai, về cơ sở thực tiễn, khi bản chất của hôn nhân chỉ trên danh nghĩa và không còn ton tại trên thực té, vợ chồng thuận tình ly hôn trên cơ sở tự nguyện, không có tranh chấp và cùng yêu cầu Tòa án công nhận cho họ thì việc áp dụng các quy định về giải quyết vụ án ly hôn là không cần thiết, đòi hỏi có những quy định riêng về giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn nhằm giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng, thuận lợi tiết kiệm được cả về thời gian và công sức của đương sự cũng như Tòa án.