CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VE BẢO VỆ QUYỀN LAM ME CUA PHU NU KHI VO CHONG LY HON: 11. Khái quát chung về bảo vệ quyền làm mẹ của phụ nit khi vợ chồng. lyhôn LLL Khái nly hôn: Kết hôn va ly hôn là hai mất trong mối quan hệ hôn nhân. Ở miễn Nam Việt Nam, đã có thời ky chính quyển Sai Gòn quy định trong Luật Gia đính ngày 02/01/1959, trong đỏ có nguyên tắc cấm vo chẳng không được ly hôn, trừ trường hợp đặc biết phải do Tổng thống quyết định, và phán quyết của Tổng thẳng la phán quyết cuéi cùng, nghĩa là không chủ thé nao được quyển.
kháng cáo, kháng nghị với quyết định nay. Ly hôn theo từ điển tiếng Viet’, được định nghĩa là việc "vợ chéng bỏ nhau một cách hợp pháp”, hay trong ngôn ngữ đời thưởng thi đó là việc "gia đình tan vỡ”, "tan dn xé nghề”. Tuy việc ly hồn từ trước đến nay vẫn được coi lä một sự kiện bắt hạnh, không một cặp vo chồng hay bat cứ mét gia định nào mong muốn, nhưng đó cũng lả một trong những quy luật tất yêu của xã hội. Như trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Các Mác và Ăng ghen có quan điểm tán thành giải quyết ly hôn khi hạnh phúc gia đình thực sự không còn hạnh phúc nữa, “đó la diéu cẩn thiết cho cả người đàn ông, người đản bà va cho cả xã hội, là biểu hiện của đạo đức và là một quy tắc trong quan hệ vợ chẳng mới.
Trong xã hội tương lai, dam bao cho con người quyển tự do kết hôn va ly hôn trên cơ sở bình đẳng giữa người din ông va người dan ba, đây là bước tiền rõ rệt trong thời hiện dai” Đây là một quan điểm rat tiền bộ của Các Mác va Ang ghen khi nhìn ra được bên chất cũng như một trong những sự phát triển tắt yếu của quan hệ hôn nhân gia đình Theo từ didn Luật hoc của Viện khoa học pháp tý - Bé Tư pháp, ly hồn được hiểu là việc “châm đứt quan hệ vợ chéng do Toa án nhân dân công nhận. ` Viên Ngôn ngghọc G0), Từ đến Ting Vat, Nb Hằng Đức trng 713 u hoặc quyết định theo yêu cu của vo, chẳng hoặc cả hat vợ chẳng". Trong định ngiĩa nay, chúng ta đã nhìn nhận được việc chấm dút mỗi quan hệ vợ chẳng được giải quyết theo quy định pháp luật, và do cơ quan có thẩm quyền. 1ã Toa äH nhận dần thụ lý iãi đúyÑ: Viee Đăng nhận KORE GVA định Ga Tok an thể hiện việc yêu cau ly hôn của vợ chẳng có thể do sự đồng thuận của cả hôn này mà khôngthé uỷ quyển cho bên thứ ba nao khác, cũng như không một thứ ba nảo khác được quyén thực hiện yêu câu sản ly hôn cho vợ chẳng đựa trên sư xét đoán của bản thân, dù dua trên những quy định, căn cứ pháp luất.
Hơn nữa, định nghĩa nảy cũng đã khả bao quát vẻ bản chất, quy định cũng như thủ tục liên quan đến việc ly hôn. Định nghĩa này đã được phần ánh khá đây đủ về mặt nội dung cũng như hình thức trong quy đính tại Điền 8 Khoản 8 của Luật HN&GĐ năm 2000: "Ly hôn là chấm đứt quan hệ hôn nhân do Toa an công nhân hoặc quyết định theo yêu cầu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chẳng”. Tuy nhiên, trong định nghĩa trên ta chưa ác định được thời điểm việc ly hôn có hiệu lực pháp lý, cũng như chưa xc định được đây di các chủ thể có quyền yêu câu ly hôn. Củng với sự phát triển xã hội cũng như khoa học pháp lý, khái niệm ly hôn cũng được quy định ngây càng rõ ràng, chit chế và hoàn thiện hơn trong các văn bản pháp luật có liên quan.
Theo khoản 14 Điều 3 cia Luật HN&GĐ. năm 2014 đã quy đính “Ly hôn là việc chấm đút quan hé vợ chồng theo bản án, quyết đính có hiệu lực pháp luật của Toa án”. Vẻ thời điểm chẳm dứt hôn nhân cũng được quy đính tại khoản 1 Điểu 57 Luật HN&GĐ năm 2014 “Vin Khoa học hp ý 2006), ưa Lojt học cin Vận Khoa học pip ý Bộ Tư nhấp, Nob ue didn Bich hot, ng 460 “Quan hệ hôn nhân chấm đứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Toa an có hiệu lực pháp luật". Như vay, theo quy định của luật hiện hành, nồi dung ly hôn phải theo "yêu câu vợ hoặc chồng hoặc c& hai vợ chồng” đã được lược bỏ.
Điều nay là phù hợp để mở rộng hơn các chủ thể có quyên yêu cầu ly hôn trong x4 hội điện dai ngày nay. Quyển yêu câu ly hôn có thể xuất phat tir những người thứ ba liên quan được quy định tại Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 như cha, me, người thân thích khác theo những điều kiện được pháp luật quy đính Hon nữa, bản án va quyết định của Toà án nhân dân đã được quy định cụ thể hơn về thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý, khi Bản án hoặc. Quyết định của Toa án nhân dân có hiệu lực thi quan hệ hôn nhân mới chính thức được chấm đứt Việc đính nghĩa chính xác và toàn dién vẻ ly hôn trong quan hệ hôn nhân gia đính cỏ vai trò rất quan trọng, phân anh quan điểm, đường lồi, chính sách của Nhà Nước trong việc giải quyết va zử lý hậu quả pháp lý có liên quan dén ly hôn. Đồng thời, những căn cứ pháp lý đối với viếc ly hôn cũng góp phan quan trong trong việc bảo đảm sự ổn định của gia đình, bảo vệ.
những người yêu thé trong xã hội như ba me va trẻ em. Nine vậy, ly hôn là việc chẩm đứt quan hệ vợ chéng theo các căn cử. được pháp luật quy inh do Toà án nhân dân có thẩm quyền đưa ra phám quyết bằng một bein án hoặc quyắt aint có hiệu lực pháp luật 11. Khái niệm quyén lam mẹ của phụ nie Khai niệm quyên làm me hiện nay chưa được định nghĩa cũng như trở thành một khái niệm pháp ly trong các văn ban quy phạm pháp luật.
Việc làm me tử xưa đến nay vấn được hiểu la một quyển tự nhiên và thiéng liêng của người phụ nữ. Trong zã hội Việt Nam cũ, việc làm mẹ phải đi cũng với việc làm vợ trong gia đình, người phụ nữ phải lập gia đính thi mới được có con. Trong bộ phim truyền hình “Thuong nhớ ở ai” (2017)” dựa trên éu thuyết ‘Hop báo rt phim “Thương nhớ 6a" ups ad comm ake Yuet op bạo bo phi ‘fang 0-708, my cấp ng 11070022 “Bén không chẳng”, chúng ta nhìn thấy những đoan phim rét ám ảnh vẻ một người phụ nữ không chồng chữa hoang bi cao đâu, bối vôi, thả bè trôi sông, trong tiếng ho hét khinh bi của dân lang của một thời zã hội cũ. Quan niệm phong kiến cho rằng việc lấy chẳng, sinh con là thước đo phẩm hạnh của người phu nữ, nêu một người không chồng mà chửa là gay ra một chuyện tay đính, thất tiết, không được chấp nhân trong xã hội cứ.
Để phan ứng lai những quan niệm khất khe đương thời, dân gian xưa đã từng có câu: "Không chẳng như hiện tượng phu nữ không kết hôn nhưng có con, tuy nh “quyển làm me” vẫn được hiểu theo cách lý tưởng v việc người me sinh con và nuôi dưỡng, chấm sóc, giáo duc con cai sau khi kết hôn, lập gia đỉnh. Theo Từ điển Tiếng Việt, “quyển”? được hiểu là điều mà pháp luật hoặc xế hôi công nhân cho được hưởng, được lâm, được đòi hỏi. định nghĩa là người dan bả có con, trong quan hệ với con. Như vây, ta có thé hiểu quyên làm me là quyển được có con theo quy định của pháp luật hoặc cia xã hôi.
Định nghĩa nay tuy khả đẩy đủ nhưng chưa dé cập đến những quyển được đương nhiên thừa nhân, quyển mang tinh tự nhiên đó là khi một người phu nữ sinh con ra, không phụ thuôc vào tinh trang hôn nhân, thì người phụ nữ sẽ trở thành me của đứa con của mình. Theo từ điển Luật học, "quyền"! được hiểu là những viếc mà một người được lam mà không bị ai ngăn cân, han ché Phân loại quyền gồm có mg Lưng vì đồ mm xử ý vụ ín “Thing đứng mà din”, np oaotangichsu vhfcJArtzi/3008/131878:xng hong i-d St si: hong chong mạn Hạn, trợ cập ngộ 11072072 ‘Vin Nginngithoc (2021), Từ đến Ting Vi, Nob Hằng Đức, răng 1031 ` Viên Ngôn ngĩ học 2031), Tdi Tổng Vt, ob Hằng Đức măng 792 st ngữ pip ý, hebe.(EuErgtoss ant gap hye XgộNess=gfSpSE:=20, ty cập ng 12072022 Fra quyển đương nhiên như quyển lam người, quyển được sống, quyển được tw do, quyển được mưu cầu hạnh phúc; quyển do pháp luật cho phép hoặc pháp luật không cấm lam. Định nghĩa vẻ “quyển” ở đây đã bao quát được các quyển tự nhiền và quyển luật định. Với đính nghĩa về “me” là người phụ nit có con, thì chúng ta thấy rằng, để có con người phụ nữ có thể sinh con theo phương thức tự nhiên, nhờ sự hỗ trợ của khoa học hoặc nhận nuôi con nuối Như vậy, quyển làm mẹ ở đây được hiểu la quyển của người phụ nữ được mang thai, sinh con theo phương thức tự nhiên hoặc nhờ vào các phương pháp hỗ trợ sinh sản, cho và nhận nudi con nuối.
Tuy nhiên, nêu định nghĩa về quyền lam me chỉ đừng lại ở việc quyển có con của người phụ nữ thì chưa đây đủ. Theo từ điển Anh Việt, từ me (mother) con có thể là đông từ mang nghĩa chăm sóc, nuôi nẵng, sinh ra, dé ra. Chúng ta cũng có câu ca dao quen thuộc: "Công cha như núi Thái Sơn, nghia mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, để nói về công ơn sinh thảnh, dưỡng duc to lớn của cha me. Do đỏ, trong định nghĩa về người me, cần được định nghia lả người dan ba có con, trong mối quan hệ huyết thông hoặc nuôi dưỡng đối với con; cham sóc, nuôi đưỡng, giáo đục con.
Tại công ước về xoá bé moi hình thức phân biệt đối xử chồng lại phụ nữ năm 1979 có nội dung “Ghi nhớ sw đóng góp lớn lao của phụ nữ vao hạnh phúc gia đính và sự phát triển của xã hội ma lâu nay vẫn chưa được công nhên đây đủ, ghi nhớ ý nghĩa xã hội của việc làm me, va vai trò của cả bồ lẫn ‘me trong gia đính va trong nuôi dạy tré em, và nhên thức rằng, vai trò của phụ. nữ trong việc sinh đẻ không thé được viện dẫn là cơ sở cho sự phân biệt đối xử, và rằng, việc nuôi dạy trẻ em đòi hỏi có sư chia sé trách nhiệm giữa đán. ông va phụ nữ và sã hội nói chung”.