Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VE CHIA TÀI SAN CHUNG LA NHÀ O CUA VO CHONG KHI LY HON 1. Khái quát việc chia tài sản chung là nha ở của vợ chồng khi ly hôn 1. Khái niệm, nội hàm tài sản chung là nhà ở của vợ chồng 1. Khái niệm tài sản chung là nhà ở của vợ chồng - Khái niệm “tài sản chung vợ chong”.
Dé hiểu về tài sản chung của vợ chồng, trước hết cần hiểu định nghĩa của tài sản là gì. Quan niệm về tài sản khá đa dạng và có nhiều điểm khác nhau, và cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm chung về tài sản. Tài sản có thé được hiểu là “mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu, hoặc hữu hình hoặc vô hình, hoặc động sản hoặc bat động sản” [41]. Các quốc gia theo hệ thống Civil Law đều định nghĩa theo hướng liệt kê các thành phần của tài sản.
Còn tại các quốc gia theo hệ thống Common Law thì có quan niệm về tài sản từ góc nhìn “mối quan hệ giữa người với người liên quan đến vật”, tức là “tài sản gồm bat kể những gì có khả năng sở hữu hoặc bởi cá nhân, tập thể hoặc cho lợi ích của người khác” [4I]. Dù có sự khác biệt trong định nghĩa về tài sản, không thể phủ nhận những đặc điểm cơ bản của nó. Tài sản là một phần của thé giới vat chất, có giá trị và có thé được định giá bang tiền, là đối tượng của quyền sở hữu của các chủ thê trong xã hội. Bộ luật Dân sự hiện hành của Việt Nam thừa nhận sự tồn tại và ghi nhận khái niệm tài sản tại Điều 105 Bộ luật Dan sự năm 2015: “Tdi sản là vật, tiên, giấy tờ có giá và quyển tài sản.
Tài sản bao gom bất động sản và động sản” [18, tr. Đây là phương pháp định nghĩa liệt kê nham chỉ ra các loại tài sản. Trong lĩnh vực luật HN&GD, tài sản của vợ chồng được coi là một khía cạnh quan trọng. Sau khi kết hôn, tài sản chung được hình thành và quyên sở hữu, su dụng, quyết định liên quan đên tài sản này cũng xuât hiện.
12 Vấn đề tài sản không chỉ liên quan đến lợi ích của hai bên mà còn ảnh hưởng đến các bên thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy, việc tranh chấp tài sản là một vấn đề phổ biến, đặc biệt là sau khi vợ chồng ly hôn. Thực tế xét xử cho thấy rằng hầu hết các tranh chấp trong cuộc sống hôn nhân liên quan đến tài sản. Tuy nhiên, việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng gặp nhiều khó khăn và hạn chế trong việc quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong lĩnh vực luật dân sự, luật HN&GD tại Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 33 của Luật HN&GD Việt Nam năm 2014, quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “1, Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra thu nhập do lao động hoạt động sản xuất, kinh doanh hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dich bang tài sản riêng.” [24] Theo quy định tại Khoản 13, Điều 3 của Luật HN&GD năm 2014, tài sản chung của vợ chồng không phụ thuộc vào việc sống chung hay sống riêng mà phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân được định nghĩa là thời gian quan hệ vợ chồng tinh từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày cham dứt hôn nhân. Điều này có nghĩa là thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian quan hệ hôn nhân được công nhận theo pháp luật, không phụ thuộc vào việc vợ chồng sống chung thực tế hay không.
Xuất phát từ tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân, mà là cùng chung ý chí và công sức trong việc xây 13 dựng khối tài sản nhằm phục vụ cho gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng đối với gia đình và xã hội, tài sản chung của vợ chồng không yêu cầu vợ chồng phải cùng tạo ra tài sản chung đó trực tiếp. Do đó, tài sản chung của vợ chồng được xác định là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia (theo Khoản 1, Điều 213 Luật HN&GD năm 2014), tức là “sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tai sản chung” [26] (theo Khoản 1, Điều 210 Bộ Luật Dân sự năm 2015). Đối với tài sản chung của vợ chồng, cả vợ và chồng đều có quyền sở hữu, sử dụng và quyết định một cách ngang nhau, không thể xác định được phần tài sản nào thuộc về vợ hay chồng trong khối tài sản chung. Chỉ khi tài sản chung CỦa VỢ chồng được phân chia, thì mới có thể xác định phần tài sản thuộc về từng người trong khối tài sản chung đó.
Dựa trên các phân tích đã dé cập, có thé hiểu rằng: Tài sản chung của vợ chong là tài sản được tao ra thông qua công sức lao động từ hoạt động dau tư, sản xuất kinh doanh và tiền lương của vợ chong trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, tài sản chung cũng bao gồm các tài sản được thừa kế chung, được tặng cho chung, hoa lợi, lợi tức phát sinh và các thu nhập hợp pháp khác, mà không phân biệt người nào trực tiếp tạo ra tài sản đó hoặc những tài sản mà vợ chông đã thỏa thuận là tài sản chung. - Khái niệm nhà ở Nhà ở là một loại tài sản đặc biệt trong cuộc sống thường nhật của mỗi con người. Nhà ở là tư liệu sinh hoạt và là nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân, mỗi gia đình.
Nhà ở là tài sản có giá tri lớn thuộc sở hữu của hộ gia đình và cá nhân, không chỉ là tài sản có giá trị kinh tế đơn thuần mà còn có nhiều ý nghĩa về mặt xã hội, là nơi con người trú ngụ, nơi diễn ra những sinh hoạt chủ yếu của con người, chỗ nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động, nơi đoàn tụ gia đình. Nhà ở còn là điêu kiện quan trọng đâu tiên đê phát triên nguôn lực con người, 14 là một yếu tố hết sức quan trọng để phát triển sản xuất, bảo đảm tốt vấn đề về nhà ở sẽ giúp người lao động ồn định sức khỏe, tái sản xuất lao động có chất lượng cho xã hội, giúp phát triển nền kinh tế. Theo Từ điển Tiếng Việt, “nha” được định nghĩa là “Công trình xây dựng có mái, có tường vách dé ở hay dé ding vào một việc nao đó” [40, tr. Nhà ở có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội và quyền có nha dé ở cũng được xem là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân.
Điều 22 của Hiến pháp năm 2013 đã khang định “Công dân có quyên có nơi ở hợp pháp” [23]. Đề giải quyết vẫn đề này, tạo lập nhà ở được phát sinh thông qua các hoạt động xây dựng, mua, bán, thuê, thuê mua, tặng cho, thừa kế. Luật Nhà ở năm 2014 cũng đã có định nghĩa về nhà ở, cụ thể “Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích sử dụng là để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình” [25]. Nhà ở là tài sản do con người tạo lập ra, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu về chỗ ở, sinh hoạt hàng ngày của mỗi cá nhân, hộ gia đình.
Trên góc độ xây dựng, nhà ở được hiểu là sản phâm của hoạt động xây dựng và không gian bên trong có tổ chức được ngăn cách với môi trường bên ngoài dùng dé ở. Còn theo góc độ quản lý kinh tế, nhà ở được xem là một loại tài sản đặc biệt và quan trọng đối với đời sống con người, là một bộ phận giúp bảo vệ con người trước các hiện tượng tự nhiên. Nhà ở là tô âm gia đình, tại đây con người được sinh ra, được nuôi dưỡng, giáo dục và trưởng thành; đồng thời còn là nơi tái tạo sức lao động. Như vậy, có thể hiểu, nhà ở là công trình xây dựng gắn liền với đất, được tạo lập từ quá trình lao động của con người, có không gian làm nơi cư trú, sinh song va phuc vu cac nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân và hộ gia đình.
Nhà ở được phân biệt với các công trình xây dựng khác thông qua các đặc điểm sau đây: 15 Một là, nhà ở là một loại tài sản gắn liền với đất, không thể di dời được và có đủ các điều kiện dé được phân cấp, phân loại theo quy định của pháp luật. Hai là, nhà ở là một bất động sản có tính bền vững, thời gian sử dụng dai, hao mòn chậm và là một loại tài sản có giá tri lớn. Ba là, nhà ở phải được thiết kế có đầy đủ công năng để phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân như: có phòng ở, phòng sinh hoạt chung, bếp, công trình phụ; trong đó các công trình phụ có thể được xây dựng khép kín trong cùng một căn hộ hoặc xây dựng tách biệt. - Khái niệm tài sản chung là nhà ở của vợ chỗng Từ khái niệm “Tài sản chung vợ chồng” và khái niệm nhà ở có thé đưa ra định nghĩa về tài sản chung là nhà ở của vợ chồng như sau: Tài sản chung là nhà ở của vợ chong là công trình xây dung gan liền với đất nhằm đáp ứng nhu câu về chỗ ở và sinh hoạt của gia đình, do vợ chong cùng nhau tạo lập ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc có được do được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc nhà ở mà vợ hoặc chong duoc thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; nhà ở là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chong có trudc thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chông thoả thuận hợp nhất vào khối tài sản chung.
Tài sản chung là nhà ở của vợ chồng có thé là nhà ở riêng lẻ hoặc nhà chung cư. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc khai thác, sử dụng các công năng của nhà ở là tài sản chung của vợ chồng.