Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYÉT NGHIÊN CỨU 1. Tiền đề đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu Gia đình là một chế định gắn bó với đời sống của một xã hội cụ thể. Nó phản ánh những đặc điểm truyền thống, văn hóa của xã hội đó khá sát thực và sâu sắc. Do đó pháp luật về gia đình có những khác biệt giữa các hệ thống pháp luật của các nước khác nhau mặc dù các hệ thống này đều xem luật gia đình là một chế định cơ bản của luật tư hay luật dân sự.
Trong quan hệ gia đình, ngoài tình cảm thiêng liêng, thì vấn đề hôn sản khá phức tạp nhưng phụ thuộc khá nhiều vào những đặc điểm riêng của chế định gia đình ở từng nước. Nhà làm luật của mỗi quốc gia đều lựa chọn chế độ hôn sản phủ hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, truyền thống và nguyện vọng của các cặp vợ chồng [9, tr. Hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân về mặt khoa học pháp lý nói chung không phải là vẫn đề mới của pháp luật về gia đình ở nhiều nước trên thế giới. Nhưng do các đặc điểm riêng của từng chế độ hôn sản xây dựng trên các nền tảng xã hội và pháp luật khác nhau như trên đã nói của từng nước, nên hợp đông chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói chung và hiệu lực của loại hợp đồng này nói riêng ở các nước trên thế giới thừa nhận loại hợp đồng này không hoàn toàn đồng nhất về quan niệm.
Với quan niệm phong kiến về gia đình và trải qua nhiều cuộc xâm lăng của nước ngoài, gia đình Việt Nam có đặc tính dân tộc rất mạnh mẽ. Không thể phủ nhận được vai trò của chế độ gia đình đó mà trong đó có cả những van đề về hôn sản rất Việt Nam. Song bước vào thời kỳ đổi mới, quan niệm về gia đình phong kiến và quan niệm gia đình theo kiểu xã hội chủ nghĩa cũ đang dần dần bị thay thế bởi một quan niệm gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Sự thay đổi về quan niệm này chủ yếu diễn ra trong mối quan hệ tài sản giữa các thành viên gia đình đối với nhau và giữa gia đình với những người ngoài gia đình.
Vì vậy ở Việt Nam hiện nay, chế độ hôn sản thừa nhận việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà với pháp luật về hôn nhân và gia đình trước kia vẫn còn cảm thấy khá xa lạ. Hiện nay dù có sự khác biệt đó, nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về loại hợp đồng này nói chung và hiệu lực của loại hợp đồng này nói riêng. Vì vậy khi đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước đối với đề tài “Hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chong trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam” cần phải lưu ý tới các tiền đề sau: Thứ nhất, hiệu lực của hợp đồng chia tai sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một vấn đề thuộc luật tư có mối liên hệ không thể tách rời với các vấn đề pháp lý chung của nghĩa vụ, hợp đồng và tài sản. Nên khi đánh giá tình hình tổng quan không thé bỏ qua các công trình nghiên cứu có tính chất chung, nhưng chỉ trong phạm vi các mối liên hệ trực tiếp.
Thứ hai, hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói chung và hiệu lực của hợp đồng này nói riêng không thể tách rời chế độ hôn sản theo một hệ thống pháp luật cụ thé. Do đó chỉ tập trung đánh giá tình hình nghiên cứu ở ngoài nước đối với các công trình liên quan trực tiếp tới loại hợp đồng này và hiệu lực của nó theo chế độ hôn sản trong nước sở tại, trừ những công trình liên quan tới các thông tin, kiến thức chung trực tiếp. Phân loại nội dung nghiên cứu thuộc đề tài (1) Căn cứ vào tính hệ thống liên quan tới phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu của đề tài có thé được chia thành các phan theo thứ bậc như sau: Thứ nhất, những vẫn đề chung về hiệu lực của hợp đồng có liên quan; Thứ hai, những van dé chung về chê độ hôn sản có liên quan; Thứ ba, những vẫn đề chung về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chong trong thời kỳ hôn nhân; Thứ tr, những vẫn đề chung về tài sản chung của vợ chồng; Thứ năm, khái niệm, đặc điểm của hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; Thứ sáu, lược sử của các qui định hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; Thứ bay, nội dung của các qui định hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thứ tám, những vẫn đề về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật liên quan.
Thứ chín, những kết luận và kiến nghị liên quan tới đề tài luận án. (2) Căn cứ vào mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, nội dung nghiên cứu của đề tài có thể được chia thành các vẫn đề lớn như sau: + Những vấn đề về lý luận liên quan; + Những vấn đề về lịch sử pháp luật liên quan; + Những vấn đề về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật liên quan; + Những kết luận và kiến nghị liên quan. Qua hai cách phân loại trên theo chiều ngang phù hợp với nhận thức tổng thê về đề tài, để bảo đảm hiệu quả của đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan, và xây dựng các nội dung nghiên cứu, luận án lựa chọn cách đánh giá dựa trên căn bản của cách phân loại nội dung căn cứ vào tính hệ thông liên quan tới phạm vi nghiên cứu của đề tài như nói tại điểm (1) và thêm hai mảng nội dung nói tại điểm (2) là những vấn đề về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật liên quan và những kết luận và kiến nghị liên quan tới đê tài luận án. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Vẻ những van dé chung về hiệu lực của hợp dong có liên quan Trong cuốn “Giáo trình luật hợp dong phan chung (Dùng cho đào tạo sau đại học)”, Tác giả Ngô Huy Cương chỉ ra khái niệm hiệu lực của hợp đồng (sau khi đã nghiên cứu sâu về hợp đồng) theo nghĩa rộng bao gồm các vấn đề như thi hành hợp đồng, giải thích cho ý chí của của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và kiềm chế hoặc bảo đảm cho việc biểu lộ ý chí, va theo nghĩa hẹp bao gồm thi hành hợp đồng và giải thích cho ý chí của của các bên tham gia quan hệ hợp đồng [10, tr.
Nhà nghiên cứu Vũ Văn Mẫu đã xác định rõ ràng về phạm vi của hiệu lực của hợp đồng và chỉ rõ nghiên cứu hiệu lực của hợp đồng bao gồm nghiên cứu hiệu lực của nghĩa vụ và vấn đề giải thích hợp đồng [37, tr. Đây chính là nội dung của hiệu lực hợp đồng mà cần phải triển khai nghiên cứu sau khi đã nghiên cứu điều kiện có hiệu lực, phạm vi của hiệu lực và thời gian có hiệu lực của hợp đồng. Luận án tiến sĩ “Hiệu lực của hợp đồng theo qui định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Minh Hùng bảo vệ tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa: “Hiệu lực hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, và giá trị pháp lý ràng buộc các bên tham gia hợp đồng phải tôn trọng và phải thi hành nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ đó” [27, tr. Định nghĩa này không phan ánh được phạm vi của van dé hiệu lực của hợp đồng trong mối quan hệ với các vấn đề khác như giao kết hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu, phân loại hợp đồng, giải thích hợp đồng, vi phạm hợp đồng và thực hiện hợp đồng.
Và bản thân thuật ngữ giá trị pháp lý được sử dụng trong đó cũng có nhiều vấn đề cần lý giải và khó xác định. Trong Common Law, vân đê côt yêu của hiệu lực của hợp đông được 11 thé hiện trong học thuyết “Privity of contract” (tạm dich là quan hệ pháp lý giữa các bên). Học thuyết này có nội dung chủ yếu là chỉ các bên thực tế của hợp đồng có quyền và nghĩa vụ bắt buộc theo hợp đồng, tuy nhiên có ngoại lệ đối với bên thứ ba có lợi ích [73, pp. Dù không nghiên cứu một cách khái quát như ở các nước theo Civil Law, nhưng luật hợp đồng ở các nước Common Law cũng nghiên cứu những vấn đề pháp lý như ở Civil Law như điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, giải thích hợp đồng và thực hiện hợp đồng.
Trong phiên bản năm 2004 của Unidroit giới thiệu Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, quan niệm rộng về hiệu lực của hợp đồng đã được đưa ra không bao gồm nội dung của hiệu lực của hợp đồng mà chỉ liên quan tới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu [63, tr. Phần giải thích hợp đồng và thực hiện hợp đồng được tách riêng. Tuy nhiên các vấn đề này về mặt học thuật là một thê thong nhat. Do đó nhăm mục tiêu nghiên cứu của Luận án này, hiệu lực của hợp đồng được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm tất cả các phạm vi đã đánh giá ở trên và các vấn đề pháp lý liên quan tới hậu quả của việc vi phạm các qui tắc của hiệu lực của hợp đồng chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ ly hôn.
Vẻ những van dé chung về chế độ hôn sản có liên quan Khái niệm về chế độ hôn sản được Ủy ban Châu Âu giải thích rõ ràng trong “Proposal for a Council Regulation on jurisdiction, applicable law and the recognition and enforcement of decisions in matters of matrimonial property regimes” ngày 2/3/2016 rang: “Chế độ hôn sản xuất phat từ sự tồn tại của quan hệ gia đình giữa các cá nhân trong đó. Vậy các chế độ hôn sản liên hệ gần gũi với kết hôn, dù chúng liên quan tới mỗi quan hệ tài sản giữa vợ và chồng và giữa vợ chồng và người thứ ba, thì chúng nhất thiết được xem như một phần của luật gia đình.