Chương I Khái quát chung về ly hôn 1.1 Khái niệm chung về ly hôn 1.1 Quan điểm chung về ly hôn Một ngày nên nghĩa trăm năm là một quan niệm đẹp đã ăn sâu vào tiềm thức của người Phương Đông. Với quan niệm ấy nhiều cặp vợ chồng đã chung sống với nhau hạnh phúc trọn đời. Nhưng những năm trở lại đây do nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ nên sự nhìn nhận vấn đề này thay đổi mạnh mẽ. Cái nghĩa vợ chồng mỗi ngày lại được nhìn nhận khác đi.
Người ta bây giờ không còn quá coi trọng vấn đề này như ngày xưa nên khi đặt bút ký tên vào đơn ly hôn không còn nặng nề nữa để giải phóng cho một trong các bên vợ chồng. Nếu tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình tới mức trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể duy trì được thì giải phóng cho nhau là điều tốt. Do đó tình trạng ly hôn đang ngày càng có su hướng tăng dần. Và quả thực ly hôn ngày nay không còn quá khó, không còn là vấn đề trọng đại với nhiều cặp vợ chồng quát về ly hôn Mỗi gia đình là một phần của xã hội, là một xã hội thu nhỏ gia đình tác động đến xã hội và ngược lại xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mỗi gia đình.
Vì vậy mà chính sách xã hội thay đổi kéo theo mỗi con người mỗi gia đình khác đi rất nhiều; và trong ly hôn do là biểu hiện của sự gia tăng các vụ ly hôn. Và chính các mâu thuẫn gia đình , những vụ ly hôn đã gây ảnh hưởng sấu cho xã hội. Tình trạng suy giảm đạo đức nề nếp gia phong trong gia đình ngày càng phổ biến, cảnh những đứa con bơ vơ giữa cuộc đời khi ở bên mẹ thì vắng cha, ở bên cha thì vắng mẹ, chúng có mẹ có cha đấy nhưng lại thiếu sự chăm sóc của một trong hai người. Dù thế nào thì ly hôn trong mọi trường hợp đều là giải pháp bất đắc dĩ.
Đối với mỗi con người không có gì quý hơn một mái ấm gia đình hoà thuận và hạnh phúc. Vợ chồng chia tay có thể là giải pháp chút bỏ gánh nặng cho nhau nhưng những đứa con mới thực sự thiệt thòi. Mong sao trước khi đặt bút ký vào đơn ly hôn những người cha người mẹ hãy thận trọng và suy xét kỹ càng. Trước hết và quan trọng nhất là mỗi cá nhân phải sống với nhau bằng tình thương và trách nhiệm, phải làm tròn bổn phận vun đắp cho tổ ấm được hạnh phúc hoà thuận, bền vững.2 Khái niệm ly hôn Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (Khoản 14 điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).Ly hôn là việc chẩm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng.
Ngoài hai vợ chồng ra không một người nào khác có thể yêu cầu ly hôn được và việc chấm dứt hôn nhân giữa hai vợ chồng phải được Toà án có thẩm quyền quyết định hoặc công nhận thì mới có giá trị pháp lý. Trên thực tế có nhiều cặp vợ chồng sau khi xây dựng gia đình được một thời gian thì bỏ nhau, nhưng không ly hôn, không được Toà án công nhận và cả hai đều đi xây dựng gia đình mới. Điều này không được pháp luật cho phép và bảo vệ vì nó trái với các quy định của pháp luật. Khi chưa được pháp luật công nhận là vợ chồng đã ly hôn bằng quyết định của Toà án thì hôn nhân là không hợp pháp, pháp luật không công dân và cho phép.
Khi xử cho vợ chồng ly hôn Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết. Căn cứ ly hôn là những tình tiết được quy định của pháp luật và chỉ khi có những điều kiện đó thì Toà án cho ly hôn. Như vậy, theo tinh thần của điều luật thì khi vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng có yêu cầu ly hôn thì Toà án nhân dân tiến hành điều tra, hoà giải nhằm đoàn tụ gia đình. Nếu hoà giải không thành thì Toà án mới xử cho ly hôn và chỉ cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được .2 Sơ lược lịch sử chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn phát triển Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn.
Thời kì phong kiến có bộ Quốc Triều hình luật ban hành dưới triều đại vua Lê Thánh Tông (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt Luật lệ được ban hành dưới triều vua Gia Long (Luật Gia Long). Trong thời kì Pháp thuộc, nước ta chia thành ba miền và áp dụng ba bộ luật để điều chỉnh các vấn đề hôn nhân gia đình (1) Ở Bắc kì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (Dân luật Bắc kỳ), (2) Ở Trung kì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (Dân luật Trung kỳ), (3) Ở Nam kì cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883. Thời kỳ cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân (từ 1945 -1954) nước ta ban hành Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 để điều chỉnh vấn đề ly hôn. Thời kỳ đất nước chưa thống nhất (1954 – 1975) bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc thì ở miền Bắc vấn đề ly hôn được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình 6 năm 1959 còn ở miền Nam vấn đề ly hôn được điều chỉnh bởi 3 bộ luật : (1)Luật Gia đình 2/01/1959, (2) Sắc luật 1964 ngày 23/07/1964, (3) Bộ dân luật 20/12/1972.
Thời kỳ 1976 đến nay vấn đề ly hôn được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 sau đó được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tại khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình 2000 quy định: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chống hoặc cả hai vợ chồng. Để tìm hiểu vấn đề ly hôn trong hệ thống pháp luật từ thời phong kiến đến nay, em xin tìm hiểu dưới 4 góc độ: A, Thứ nhất là căn cứ ly hôn. Nhà nước phải kiểm soát việc giải quyết ly hôn (để đảm bảo lợi ích của vợ chồng, con cái, các thành viên trong gia đình và lợi ích của xã hội) bằng cách xác định những điều kiện cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật.
Đó chính là căn cứ để giải quyết ly hôn. Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết hay điều kiện được quy định trong pháp luật để khi có những tình tiết hay điều kiện đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn. Trước khi bộ luật hôn nhân gia đình 1959 ra đời, ở tất cả các bộ luật trước đây đều quy định giải quyết ly hôn đều là dựa vào lỗi của vợ, chồng. Việc căn cứ vào yếu tố lỗi để giải quyết việc ly hôn là rất sai lầm thể hiện ở chỗ chỉ nhìn vào biểu hiện bên ngoài của quan hệ hôn nhân để cho phép vợ chồng ly hôn chứ không căn cứ vào thực chất của quan hệ vợ chồng.
Điều này sẽ dẫn đến việc có thể đánh giá chưa đúng mức độ của tình trạng hôn nhân. Việc giải quyết ly hôn dựa vào lỗi của các bên khi dựa vào hình thức của quan hệ hôn nhân sẽ dẫn đến việc xét xử của Tòa án là việc làm hết sức rập khuôn, máy móc, do rất dễ dẫn đến những phán quyết chưa chính xác đối với việc giải quyết ly hôn. Ngoài ra căn cứ như vậy sẽ khiến cho lý do để Tòa án cho phép vợ chồng được ly hôn bị hạn hẹp, dần dần sẽ bị lỗi thời so với sự phát triển của xã hội mới, với nhiều phát sinh mới. Quy định căn cứ để giải quyết ly hôn không dựa trên yếu tố lỗi là hoàn toàn đúng đắn.
Bởi việc giải quyết ly hôn phải căn cứ vào thực chất quan hệ vợ chồng, là tổng thể các hành vi, các biểu hiện của vợ chồng mà từ đó có thể khẳng định là hôn nhân của họ tan vỡ. Khi giải quyết ly hôn, ta không chỉ dựa 7 trên cơ sở tình yêu của vợ chồng không còn mà phải dựa trên một thực tế rằng quan hệ đó tự nó đã tan vỡ, sự tồn tại của quan hệ hôn nhân chỉ là hình thức, ly hôn là một giải pháp hữu hiệu nhằm giải phóng cho vợ chồng khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ hiện tại, đồng thời cũng giải phóng cho các thành viên khác trong gia đình thoát khỏi cuộc sống căng thẳng, nặng nề, bảo đảm lợi ích của vợ chồng, gia đình và xã hội. B, Thứ hai là Quyền yêu cầu ly hôn. Có hai trường hợp ly hôn đó là thuận tình ly hôn (ly hôn do cả hai vợ chồng yêu cầu) và ly hôn do một bên yêu cầu.
Dù là trường hợp thuận tình ly hôn hay do một bên yêu cầu thì pháp luật thời kì phong kiến và thời kì Pháp thuộc đều thể hiện tư tưởng trọng nam, khinh nữ. Bởi các điều luật thời kì này đều thể hiện rõ sự khắt khe đối với người phụ nữ. Những lỗi mà người phụ nữ mắc phải để người đàn ông được quyền ly hôn là rất nhiều Ngoài ra pháp luật phong kiến còn buộc vợ chồng phải ly hônmà không cần có bên nào yêu cầu đó là: kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng; kết hôn khi ông bà, cha mẹ đang bị giam cầm, tù tội; lấy người trong họ; ép gạ người vợ góa kết hôn với người khác; lấy đàn bà, con gái hát xướng làm vợ; lấy vợ góa của anh, em, thầy học; con của quan ty kết hôn với con của tù trưởng địa phương nơi biên giới.Như vậy các nhà làm luật thời kì phong kiến đã đồng nhất ly hôn với hủy hôn trái pháp luật, có nghĩa là, mặc dù, những người kết hôn và buộc phải ly hôn do phạm vào các điều kiện kết hôn thì giá trị pháp lý vẫn tồn tại đến khi có án xử ly hôn thì thôi. Khi người vợ phạm vào một trong bảy điều “thất xuất1” thì người chồng cũng bắt buộc phải bỏ vợ kể cả khi người chồng không mong muốn.
Như vậy, sự bất bình đẳng đã được thể hiện giữa vợ và chồng, bởi nó chỉ thừa nhận quyền bỏ vợ đơn phương từ phía người chồng.