Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quan hệ hôn nhân và gia đình là lĩnh vực chịu sự tác động sâu sắc từ các biến chuyển kinh tế, xã hội và văn hóa. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập, quan niệm truyền thống về sự gắn kết trọn đời trong hôn nhân có xu hướng thay đổi, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của các vụ việc chấm dứt quan hệ vợ chồng. Dưới góc độ pháp lý, ly hôn là một chế định độc lập trong hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình, giữ vai trò thiết lập hành lang pháp lý để Tòa án giải quyết các tranh chấp về nhân thân, tài sản và con chung một cách khách quan, bảo đảm quyền tự do ly hôn cũng như bảo vệ phụ nữ và trẻ em.

Sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) đã tạo lập khung pháp lý mới với nhiều điều chỉnh quan trọng. Tuy nhiên, quá trình áp dụng vào thực tiễn xét xử của Tòa án vẫn ghi nhận nhiều khó khăn, vướng mắc phát sinh từ việc thu thập chứng cứ, định giá tài sản tranh chấp, nhận diện tiêu chí đánh giá mức độ trầm trọng của hôn nhân và các vụ việc có yếu tố phức tạp. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các quy định của luật thực định nhằm giải quyết việc ly hôn chính xác, hợp lý, bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự; đồng thời phát hiện những bất cập, lỗ hổng lập pháp để đề xuất các giải pháp hoàn thiện chế định ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu tổng quan lý luận về ly hôn, tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của chế định ly hôn trong lịch sử pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn cùng kinh nghiệm thực tế của một số quốc gia.
    2. Phân tích toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành (trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, thủ tục và hậu quả pháp lý của ly hôn.
    3. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật ly hôn qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp, đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra các vướng mắc, tồn tại và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam, các án lệ và vụ việc xét xử thực tế tại Tòa án nhân dân các cấp; phạm vi thời gian trải dài từ thời kỳ cổ luật (Luật Hồng Đức, Luật Gia Long), thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn 1945–1954, 1955–1975, 1976–2000 đến thời điểm áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (tính đến tháng 6/2016).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, đặc biệt là quan điểm duy vật biện chứng về sự biến đổi của các quan hệ xã hội và bản chất tiến bộ của pháp luật hôn nhân gia đình xã hội chủ nghĩa.

Khung pháp lý và các văn bản áp dụng

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và án lệ được sử dụng làm cơ sở phân tích bao gồm:

  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992).
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
  • Các đạo luật trong lịch sử: Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000; Sắc lệnh số 90/ST (1945), Sắc lệnh số 159-SL (1950); Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936; Bộ luật Gia đình miền Nam 1959, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972; Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long).
  • Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao: Thông tư số 690 ngày 29/4/1960, Thông tư số 01 ngày 06/01/1964, Chỉ thị số 69 ngày 24/12/1969.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Mổ xẻ từng điều luật thực định về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ ly hôn, phân chia tài sản chung và nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Phương pháp lịch sử - pháp lý: Rà soát quá trình tiến hóa của chế định ly hôn qua 4 góc độ (căn cứ ly hôn, quyền yêu cầu, điều kiện hạn chế và hậu quả pháp lý).
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của Việt Nam với pháp luật và thực tiễn ly hôn tại Hoa Kỳ, Hàn Quốc, CHLB Đức.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu pháp lý từ hệ thống văn bản quy phạm; dữ liệu thực tiễn từ các bản án, hồ sơ xét xử cụ thể tại Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, Tòa án nhân dân quận Kiến An; số liệu thống kê từ Cục Thống kê Hàn Quốc (2002, 2009), Cục Thống kê Liên bang Đức (2009) và số liệu tổng kết thực tiễn xét xử tại Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát chung về ly hôn

Chương này tập trung xác lập các khái niệm cơ bản, phân tích tiến trình lịch sử lập pháp về ly hôn tại Việt Nam và tổng quan tình hình ly hôn ở một số quốc gia. Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ly hôn được định nghĩa là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Tác giả phân tích sự phát triển của chế định ly hôn qua 4 tiêu chí pháp lý chính:

Tiêu chí phân tích Thời kỳ Cổ luật & Pháp thuộc Giai đoạn 1945 – 1975 Giai đoạn 1976 – Hiện hành (Luật 2014)
Căn cứ ly hôn Dựa trên yếu tố lỗi một phía; người vợ mắc "thất xuất" buộc phải bỏ; thừa nhận ly hôn bắt buộc khi vi phạm điều kiện kết hôn. Bãi bỏ thuyết lỗi; chuyển sang căn cứ thực trạng quan hệ hôn nhân ("tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài" theo Luật 1959). Tiếp tục phát triển căn cứ thực chất (Điều 56); bổ sung căn cứ bạo lực gia đình, người bị tuyên bố mất tích, người mắc bệnh tâm thần là nạn nhân bạo lực.
Quyền yêu cầu Bất bình đẳng, mang tính gia trưởng; thừa nhận quyền "rẫy vợ" của người chồng; người vợ bị tước quyền hoặc bị hạn chế tối đa. Xác lập quyền bình đẳng nam nữ (Hiến pháp 1946, Điều 19; Luật HN&GĐ 1959); vợ hoặc chồng đều có quyền đơn phương xin ly hôn. Bình đẳng hoàn toàn; bổ sung quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác trong trường hợp đặc biệt (Khoản 2 Điều 51).
Hạn chế ly hôn Quy định "tam bất khứ" để bảo vệ người vợ theo chuẩn mực đạo đức lễ giáo; các hạn chế về độ tuổi và thời gian sống chung thời Pháp thuộc. Sắc lệnh 159-SL cho phép hoãn xử khi vợ có thai; Luật 1959 (Điều 27) hạn chế người chồng xin ly hôn khi vợ có thai/nuôi con dưới 1 tuổi. Khoản 3 Điều 51 Luật 2014 cấm người chồng yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Hậu quả pháp lý Bỏ ngỏ theo tập quán hoặc con cái mặc nhiên thuộc về người cha; người vợ ra đi chỉ được mang tư trang cá nhân. Bắt đầu quy định chi tiết phân chia tài sản chung, nghĩa vụ nuôi con và cấp dưỡng (Thông tư 690/1960, Thông tư 01/1964, Chỉ thị 69/1969). Hoàn thiện chế độ tài sản thỏa thuận; quy định công việc nội trợ là lao động có thu nhập; giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ; xem xét nguyện vọng con từ đủ 7 tuổi.

Khóa luận điểm qua thực trạng ly hôn tại một số quốc gia:

  • Hoa Kỳ: Dân số 300 triệu người, 59% đã kết hôn; ghi nhận xu hướng ly hôn gia tăng ở người cao tuổi (trên 60 tuổi, thậm chí ngoài 90 tuổi).
  • Hàn Quốc: Tỷ lệ ly hôn đứng thứ ba thế giới (sau Mỹ và Anh), tăng trưởng trung bình 0,5%/năm; theo báo cáo của Cục Thống kê Hàn Quốc năm 2002, mỗi năm có 306.000 cặp kết hôn và 145.000 cặp ly hôn (tỷ lệ 2,8 vụ/1.000 dân); năm 2009 số cặp sống chung trên 20 năm mới ly hôn chiếm 18,3%.
  • CHLB Đức: Năm 2009 ghi nhận 200.000 cặp ly hôn; phần lớn các cặp vợ chồng sống ly thân sau 6 năm chung sống và tiến hành thủ tục ly hôn vào năm thứ 7.
TIẾN TRÌNH HOÀN THIỆN CĂN CỨ VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ LY HÔN TẠI VIỆT NAM

[Cổ luật: Luật Hồng Đức / Gia Long]
      ↓
[Thời kỳ Pháp thuộc: Dân luật 1883, 1931, 1936]
      ↓
[Luật Hôn nhân và gia đình 1959 & 1986]
      ↓
[Luật Hôn nhân và gia đình 2000 & 2014]

Chương II: Ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014

Chương II đi sâu vào các khía cạnh pháp lý của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

  • Quyền yêu cầu ly hôn (Điều 51): Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Luật mở rộng chủ thể yêu cầu ly hôn cho cha, mẹ, người thân thích khác khi một bên vợ/chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do người kia gây ra. Người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
  • Các trường hợp và căn cứ ly hôn:
    • Thuận tình ly hôn (Điều 55): Đòi hỏi sự tự nguyện thực sự của cả hai bên và đã thỏa thuận trọn vẹn về việc chia tài sản, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
    • Ly hôn đơn phương theo yêu cầu của một bên (Điều 56): Tòa án giải quyết khi hòa giải không thành và có căn cứ: (1) Vợ/chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; (2) Vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn; (3) Yêu cầu ly hôn theo Khoản 2 Điều 51.
    • Nhận diện nguyên nhân thực tế: Số vụ ly hôn do hành vi ngược đãi, đánh đập chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân tại Việt Nam; hành vi ngoại tình chiếm khoảng 10% số vụ ly hôn hàng năm. Tác giả dẫn chứng các vụ án thực tế: vụ đương sự V.A (25 tuổi, TAND quận Kiến An) ly hôn do mâu thuẫn gia đình và thiếu tự chủ kinh tế; vụ án hình sự Nguyễn Văn B (huyện HH, TP. N) bạo hành vợ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
  • Hậu quả pháp lý của ly hôn:
    • Quan hệ nhân thân: Chấm dứt hoàn toàn quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
    • Phân chia tài sản: Ưu tiên nguyên tắc thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp (công việc nội trợ được coi như lao động có thu nhập), bảo vệ tài sản riêng của mỗi bên (Điều 33) và trích chia phần đóng góp của con đã thành niên.
    • Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng (Điều 115): Áp dụng khi bên túng thiếu có yêu cầu và bên kia có khả năng thực tế về kinh tế.
    • Quan hệ giữa cha mẹ và con cái (Điều 81, 82, 83): Con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ nuôi dưỡng (trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện hoặc có thỏa thuận khác phù hợp hơn); con từ đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con; bên không trực tiếp nuôi dưỡng có nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom con không bị cản trở.

Chương III: Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về ly hôn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly hôn

Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy những mặt tích cực cùng hàng loạt bất cập trong quá trình xét xử:

  • Mặt thuận lợi: Khung khổ pháp lý được hoàn thiện với Luật 2014, Nghị định 126/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn; công tác tập huấn nghiệp vụ cho Thẩm phán được tăng cường; tỷ lệ hòa giải thành tại Tòa án đạt kết quả tích cực nhờ sự nhạy bén của đội ngũ xét xử.
  • Những hạn chế và vướng mắc thực tiễn:
    1. Bất cập trong đánh giá "tình trạng trầm trọng": Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 56 mang tính định tính, thiếu tiêu chí định lượng dẫn đến sự xung đột trong quan điểm xét xử giữa các cấp Tòa án. Điển hình là vụ án ly hôn giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Đàm Thị X: Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre xử sơ thẩm cho ly hôn dựa trên hành vi ngoại tình của người chồng; tuy nhiên Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (Bản án phúc thẩm số 36/2007/HN-PT ngày 12/4/2007) lại bác đơn xin ly hôn vì cho rằng người chồng ngoại tình lại là người đứng đơn, trong khi người vợ không đồng ý ly hôn.
    2. Vướng mắc đối với trường hợp ly thân trên thực tế: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định ly thân là căn cứ pháp lý để ly hôn. Điển hình như vụ việc của chị T và anh M sống ly thân từ tháng 6/2009, Tòa án gặp khó khăn trong việc xác định thời gian và tình trạng ly thân để áp dụng thống nhất.
    3. Thiếu căn cứ ly hôn khi vợ/chồng đang chấp hành án phạt tù: Luật hiện hành chưa có điều khoản cụ thể quy định về trường hợp một bên đang thụ án tù giam, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
    4. Khó khăn trong thu thập chứng cứ và định giá tài sản: Tòa án phụ thuộc lớn vào Hội đồng định giá tài sản địa phương; đương sự thiếu hợp tác trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ xác định tài sản chung - riêng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và số liệu thực tế ghi nhận trong công trình

  • Hệ thống hóa tiến trình phát triển của chế định ly hôn tại Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, làm sáng tỏ sự chuyển dịch triệt để từ nguyên tắc xử lý dựa trên lỗi sang nguyên tắc dựa trên thực trạng quan hệ hôn nhân.
  • Trích xuất và tổng hợp các số liệu thực tế về ly hôn: tỷ lệ các vụ ly hôn có nguyên nhân từ bạo lực gia đình, ngược đãi chiếm vị trí cao nhất; hành vi ngoại tình chiếm khoảng 10% tổng số vụ án ly hôn hàng năm tại Việt Nam.
  • Phân tích thực chứng các xung đột áp dụng pháp luật thông qua Bản án số 36/2007/HN-PT của TAND tỉnh Bến Tre và các vụ việc thực tế tại TAND quận Kiến An.

Hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất

Tác giả đề xuất 7 nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình:

STT Nhóm giải pháp kiến nghị Nội dung đề xuất cụ thể
1 Lượng hóa tiêu chí căn cứ ly hôn do ngoại tình Bổ sung vào Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định: Coi là căn cứ ly hôn khi hành vi ngoại tình lặp lại nhiều lần, đã bị xử phạt hành chính hoặc có kết luận của cơ quan điều tra về dấu hiệu vi phạm chế độ một vợ một chồng, gây tổn hại nghiêm trọng tinh thần hoặc bỏ nhà đi quá 2 năm.
2 Cụ thể hóa hành vi bạo lực gia đình Bổ sung hướng dẫn vào Nghị định 126/2014/NĐ-CP tiêu chí về bạo lực vật chất (thường xuyên đánh đập, gây thương tích chưa đến mức truy cứu hình sự) và bạo lực tinh thần (chửi bới, sỉ nhục lặp lại nhiều lần đã qua hòa giải/xử phạt hành chính).
3 Công nhận chế định ly thân Đề xuất quy định ly thân là một căn cứ cho ly hôn: Trường hợp vợ chồng đã sống ly thân trên 3 năm không thể hàn gắn hoặc sống ly thân trên 3 năm theo quyết định của Tòa án thì Tòa án giải quyết cho ly hôn mà không cần chứng minh tình trạng trầm trọng.
4 Bổ sung căn cứ ly hôn khi vợ/chồng chấp hành án phạt tù Luật hóa quy định: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đang chấp hành án phạt tù có yêu cầu ly hôn thì Tòa án xem xét giải quyết cho ly hôn.
5 Tăng quyền chủ động định giá tài sản cho Tòa án Trao quyền chủ động hơn cho Tòa án trong việc xác định giá trị tài sản tranh chấp nhằm giảm bớt sự phụ thuộc kéo dài vào Hội đồng định giá, tiết kiệm chi phí cho đương sự.
6 Nâng cao hiệu quả hòa giải cơ sở Đẩy mạnh bồi dưỡng kiến thức pháp lý và kỹ năng tâm lý cho đội ngũ cán bộ hòa giải tại địa phương nhằm phát hiện và hàn gắn mâu thuẫn ngay từ cơ sở.
7 Thiết lập chế tài đối với bên có lỗi Bổ sung các quy định mang tính chế tài xử lý hoặc định hướng bất lợi về tài sản/nghĩa vụ đối với bên có lỗi chính làm đổ vỡ hôn nhân nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình: Do thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 6/2016) diễn ra ngay sau khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực (từ 01/01/2015), nguồn dữ liệu tổng kết án lệ và thực tiễn thi hành các quy định mới của Luật 2014 chưa thực sự phong phú trên quy mô toàn quốc. Các ví dụ án lệ phân tích chủ yếu dựa trên các vụ việc tại một số địa phương cụ thể (Hải Phòng, Bến Tre) và các văn bản hướng dẫn giai đoạn đầu.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trên phạm vi rộng hơn qua báo cáo tổng kết ngành Tòa án trong nhiều năm liên tục; nghiên cứu sâu hơn về sự tương thích giữa chế định ly hôn trong nước với các điều ước quốc tế về quyền con người, cũng như đánh giá tác động kinh tế - xã hội khi chính thức đưa chế định ly thân vào văn bản luật.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Luật: Bổ sung tư liệu nghiên cứu về sự tiến hóa của chế định ly hôn trong lịch sử lập pháp Việt Nam; nắm vững sự khác biệt giữa các đạo luật 1959, 1986, 2000 và 2014.
  • Người làm công tác nghiên cứu pháp lý và xây dựng chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và 7 nhóm đề xuất cụ thể để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (như Nghị định 126/2014/NĐ-CP).
  • Cán bộ tư pháp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Tham khảo phương pháp phân tích, bóc tách giữa "nguyên nhân - lý do - động cơ ly hôn" và phương pháp đánh giá "tình trạng hôn nhân trầm trọng" qua các tình huống tranh chấp thực tế về nhân thân, tài sản và quyền nuôi con.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, những ai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn?
Ngoài vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng như các luật trước đây, Khoản 2 Điều 51 Luật 2014 bổ sung quyền yêu cầu ly hôn cho cha, mẹ hoặc người thân thích khác khi một bên vợ/chồng bị bệnh tâm thần (hoặc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi), đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do người kia gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

2. Người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong những trường hợp cụ thể nào?
Căn cứ Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định hạn chế này chỉ áp dụng đối với người chồng, người vợ vẫn có quyền làm đơn yêu cầu ly hôn trong các giai đoạn trên.

3. Căn cứ giải quyết ly hôn trong pháp luật hiện hành khác gì so với thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc?
Thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc giải quyết ly hôn dựa trên yếu tố lỗi (đặc biệt là lỗi của người phụ nữ qua điều "thất xuất") và mang nặng tính bất bình đẳng nam quyền. Ngược lại, pháp luật hiện hành (từ Luật 1959 đến Luật 2014) giải quyết ly hôn dựa trên thực trạng khách quan của quan hệ hôn nhân: chỉ giải quyết cho ly hôn khi xét thấy quan hệ đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được.

4. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc giao con trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn theo độ tuổi như thế nào?
Luật quy định hai mốc độ tuổi cụ thể: con dưới 36 tháng tuổi về nguyên tắc được giao cho người mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (trừ khi mẹ không đủ điều kiện hoặc có thỏa thuận khác phù hợp); đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con khi quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng.

5. Tác giả đề xuất giải pháp cụ thể nào đối với chế định ly thân chưa được luật hóa?
Tác giả đề xuất cần chính thức công nhận chế định ly thân và coi ly thân là một căn cứ cho ly hôn: nếu hai vợ chồng đã sống ly thân trên 3 năm mà không thể tái hợp hoặc sống ly thân trên 3 năm theo quyết định của Tòa án thì Tòa án giải quyết cho ly hôn mà các bên không cần phải chứng minh tình trạng trầm trọng của hôn nhân.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của ly hôn" đã làm rõ bản chất pháp lý, quá trình phát triển lịch sử và nội dung cốt lõi của chế định ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Thông qua việc phân tích các vụ việc và số liệu thực tế tại Tòa án, công trình chỉ rõ những bất cập trong việc áp dụng căn cứ ly hôn, giải quyết ly thân và tranh chấp tài sản. Hệ thống 7 nhóm kiến nghị được xây dựng trong khóa luận mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học hữu ích cho công tác hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.