Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là quan hệ tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân, hình thành và tồn tại trong suốt thời kỳ hôn nhân. Khác với các giao dịch dân sự thông thường, quan hệ tài sản của vợ chồng không mang tính đền bù ngang giá và khó có thể xác định rạch ròi công sức đóng góp cụ thể của từng bên. Trong quá trình chung sống, việc tham gia đa dạng các giao dịch dân sự, kinh tế dẫn đến tình trạng sáp nhập, trộn lẫn giữa khối tài sản chung và tài sản riêng, làm mờ ranh giới phân định quyền sở hữu.
Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã xây dựng khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh, song thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều điểm thiếu sót, vướng mắc và thiếu các hướng dẫn cụ thể. Trong bối cảnh số lượng cũng như giá trị các vụ tranh chấp tài sản hôn nhân tại Tòa án ngày một gia tăng, việc phân định chính xác khối tài sản chung và riêng là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm thiết lập hàng rào pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và lợi ích chung của gia đình.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Minh Trang (Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Thị Hường) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, phân tích có hệ thống các quy định, nguyên tắc pháp lý hiện hành về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng.
- Đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng tại Tòa án trên phạm vi cả nước để chỉ ra những bất cập, hạn chế và vướng mắc trong xét xử.
- Đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật và tháo gỡ khó khăn trong công tác áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Tập trung vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu hoạt động thụ lý, giải quyết tranh chấp tài sản của Tòa án nhân dân các cấp trên phạm vi cả nước từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng hệ thống cơ sở lý luận đa tầng từ lịch sử luật học, luật so sánh và các quy định của pháp luật thực định Việt Nam:
-
Khung lý thuyết và khái niệm pháp lý:
- Tiếp cận khái niệm tài sản từ Luật La Mã (vật và vật quyền - res), trường phái Thông luật (Common Law - xem tài sản là "một mớ quyền" / bundle of rights), trường phái Dân luật (Civil Law) và định nghĩa tại Điều 105 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tồn tại dưới dạng động sản, bất động sản, tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai).
- Bản chất chế độ sở hữu chung của vợ chồng: Là hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia (khoản 1 Điều 213 BLDS năm 2015 và Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
- Bản chất chế độ sở hữu riêng của vợ chồng: Xác lập trên quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp (Điều 205 BLDS năm 2015 và Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014), bảo đảm quyền bình đẳng giới và quyền tự do sở hữu tài sản cá nhân theo Điều 32 Hiến pháp năm 2013.
-
Văn bản pháp luật nền tảng:
- Hiến pháp năm 2013; BLDS năm 1995, 2005 và 2015; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và 2014.
- Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019; Luật Việc làm năm 2013; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Khóa luận dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được sử dụng kết hợp: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, liệt kê, phương pháp xã hội học pháp luật và phương pháp nghiên cứu án lệ/hồ sơ thực tiễn xét xử.
-
Nguồn dữ liệu: Các công trình nghiên cứu, giáo trình chuyên khảo (Nguyễn Ngọc Điện, Đoàn Thị Phương Diệp, Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ...), các luận văn thạc sĩ luật học chuyên sâu và các bản án thực tế của Tòa án nhân dân các cấp (tiêu biểu như bản án tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng thông qua việc làm rõ các khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của việc phân định tài sản:
- Khái niệm tài sản và sự phát triển trong pháp luật Việt Nam: Phân tích tiến trình lập pháp từ BLDS 1995, BLDS 2005 (Điều 163) đến BLDS 2015 (Điều 105). Tác giả làm rõ 4 hình thái tài sản: vật (phải chiếm hữu, chi phối và lưu thông được), tiền (vật ngang giá chung), giấy tờ có giá (séc, cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu... không đồng nhất với giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng), và quyền tài sản (quyền sử dụng đất, quyền yêu cầu bồi thường, quyền đòi nợ...).
- Khái niệm và đặc điểm tài sản chung của vợ chồng: Là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia, do hai vợ chồng cùng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Các đặc điểm chính gồm:
- Vợ chồng là đồng sở hữu, có quyền ngang nhau mà không phân biệt mức độ đóng góp kinh tế cụ thể ("của chồng, công vợ").
- Tài sản chung hình thành và gắn liền với thời kỳ hôn nhân (tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân).
- Thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia (theo thỏa thuận hoặc phán quyết của Tòa án; áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý tại khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
- Khái niệm và đặc điểm tài sản riêng của vợ, chồng: Là các tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng. Các đặc điểm cốt lõi gồm:
- Thiết lập quyền sở hữu cá nhân độc lập, chủ sở hữu tự định đoạt không cần sự đồng ý của bên còn lại (trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình).
- Nguồn gốc hình thành từ trước thời kỳ hôn nhân hoặc qua các căn cứ luật định riêng biệt trong thời kỳ hôn nhân (thừa kế riêng, tặng cho riêng, phân chia tài sản chung...).
- Quyền sở hữu riêng bị giới hạn trong một số trường hợp nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình.
- Ý nghĩa của việc xác định tài sản chung, riêng: Bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân theo Hiến định; tạo cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng; làm căn cứ giải quyết tranh chấp khi ly hôn, phân định di sản thừa kế khi một bên chết, và bảo đảm an toàn pháp lý cho người thứ ba khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại với vợ, chồng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện 2 nhóm quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh căn cứ xác lập tài sản chung và tài sản riêng:
1. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng (Điều 33 Luật HN&GĐ 2014)
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh: Mọi thu nhập hợp pháp phát sinh trong thời kỳ hôn nhân từ lao động cơ bắp, trí tuệ hoặc chuyển nhượng tài sản có đền bù đều thuộc khối tài sản chung, kể cả khi một bên chỉ làm công việc nội trợ trong gia đình (khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ 2014).
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân: Căn cứ Điều 109 và Điều 324 BLDS 2015, hoa lợi (sản vật tự nhiên) và lợi tức (khoản thu từ khai thác tài sản) phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân mặc nhiên trở thành tài sản chung, trừ trường hợp có thỏa thuận chia tài sản chung theo khoản 1 Điều 40 Luật HN&GĐ 2014.
- Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân: Được cụ thể hóa tại Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP (tiền thưởng, trúng thưởng xổ số/khuyến mại, tiền trợ cấp, tài sản vô chủ, tài sản bị chôn giấu, chìm đắm, gia súc gia cầm thất lạc...). Tác giả chỉ ra điểm chưa hợp lý khi xếp trợ cấp thất nghiệp (khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013) và tiền bồi thường oan sai (Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017) vào tài sản chung, vì các khoản này mang bản chất nhân thân gắn liền với một cá nhân cụ thể.
- Tài sản thừa kế chung, tặng cho chung: Ý chí của người để lại di sản hoặc người tặng cho quyết định tính chất chung; nếu không xác định rõ tỷ lệ phân chia thì thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
- Tài sản thỏa thuận là tài sản chung: Quy định tại Điều 46 Luật HN&GĐ 2014; đối với bất động sản, quyền sử dụng đất hoặc tài sản có giá trị lớn phải tuân thủ điều kiện hình thức văn bản có công chứng, chứng thực.
- Quyền sử dụng đất (QSDĐ): QSDĐ có được sau kết hôn là tài sản chung (được giao đất, thuê đất, khai hoang theo Điều 101 Luật Đất đai, chuyển nhượng có đền bù, cấp GCN QSDĐ...). Việc đứng tên một bên trên GCN QSDĐ không làm mất đi tính chất tài sản chung nếu không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng.
- Nguyên tắc suy đoán tài sản chung: Quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ 2014; khi có tranh chấp mà không đủ chứng cứ chứng minh tài sản là sở hữu riêng thì mặc nhiên xác định là tài sản chung.
2. Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 43 Luật HN&GĐ 2014)
- Tài sản có trước khi kết hôn: Gồm tài sản do cá nhân tích lũy, tạo lập độc lập trước thời điểm đăng ký kết hôn. Tài sản chiếm hữu trước hôn nhân nhưng hoàn tất thời hiệu xác lập sở hữu trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp chiếm hữu ngay tình 10 năm/30 năm theo Điều 236 BLDS 2015) sẽ thuộc tài sản chung.
- Tài sản thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân: Phải thể hiện ý chí rõ ràng, không mập mờ của người chuyển giao quyền sở hữu (qua di chúc hợp pháp hoặc hợp đồng tặng cho công chứng).
- Tài sản có được từ việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Căn cứ Điều 38, 40 Luật HN&GĐ 2014 và Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP; phần tài sản được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đó là tài sản riêng. Riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi chia nếu không xác định được nguồn gốc thì vẫn là tài sản chung.
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu: Đồ dùng sinh hoạt cá nhân thông thường (khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014). Với trang sức, tư trang có giá trị lớn vượt quá thu nhập thường xuyên của gia đình, tác giả lập luận cần coi đó là tài sản chung mang tính tích lũy thay vì tư trang cá nhân riêng.
- Tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo luật (Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP): Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, sở hữu công nghiệp, giống cây trồng theo Luật SHTT 2019); tài sản xác lập theo bản án/quyết định có hiệu lực của Tòa án; khoản trợ cấp, ưu đãi người có công và quyền tài sản gắn liền với nhân thân.
- Tài sản hình thành từ tài sản riêng: Tài sản có nguồn gốc hoán đổi, mua sắm trực tiếp từ tài sản riêng (ví dụ: dùng tiền thừa kế riêng 6 tỷ đồng để mua xe ô tô hoặc nhà đất).
| Tiêu chí phân định |
Tài sản chung của vợ chồng (Điều 33) |
Tài sản riêng của vợ, chồng (Điều 43) |
| Căn cứ thời gian xác lập |
Chủ yếu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân (từ ngày đăng ký kết hôn đến khi chấm dứt). |
Xác lập trước khi kết hôn hoặc qua các căn cứ pháp lý đặc thù trong thời kỳ hôn nhân. |
| Căn cứ nguồn gốc & giao dịch |
Lao động, SXKD, hoa lợi/lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập hợp pháp khác, thừa kế/tặng cho chung. |
Thừa kế riêng, tặng cho riêng, chia tài sản chung, tài sản hình thành từ tài sản riêng. |
| Tính chất sở hữu |
Sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia; quyền và nghĩa vụ của hai bên ngang nhau. |
Sở hữu riêng cá nhân; chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt độc lập. |
| Yếu tố công dụng & nhân thân |
Đảm bảo nhu cầu thiết yếu và duy trì đời sống chung của gia đình. |
Phục vụ nhu cầu cá nhân thiết yếu; quyền tài sản SHTT; quyền gắn liền với nhân thân. |
| Quy tắc suy đoán pháp lý |
Mặc nhiên coi là tài sản chung nếu không có đủ chứng cứ chứng minh là tài sản riêng (khoản 3 Điều 33). |
Phải có đầy đủ chứng cứ chứng minh nguồn gốc hợp pháp theo Điều 43 để loại trừ suy đoán. |
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật tại ngành Tòa án và phân tích sâu một vụ án thực tế làm điển hình:
- Phân tích vụ án tranh chấp tài sản sau ly hôn tại tỉnh Khánh Hòa:
- Vụ việc: Tranh chấp căn nhà số 28B XX, phường TT, TP. Nha Trang giữa nguyên đơn bà Trần Thị B và bị đơn ông Tôn Thất C. Nhà mua năm 2005 đứng tên ông C trên GCN QSDĐ, nguồn gốc từ số vàng ông C được cha mẹ (ông Tôn Thất B) cho.
- Xét xử sơ thẩm (Bản án số 67/2014/DS-ST ngày 09/09/2014 của TAND TP. Nha Trang): Bác yêu cầu của bà B, xác định căn nhà là tài sản riêng của ông C vì GCN QSDĐ đứng tên ông C và nguồn gốc vàng do cha ông C cho riêng.
- Xét xử phúc thẩm (Bản án số 28/2015/DS-PT ngày 13/04/2015 của TAND tỉnh Khánh Hòa): Sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của bà B, tuyên bố căn nhà là tài sản chung của vợ chồng. Giao nhà cho ông C và buộc thanh toán giá trị chênh lệch cho bà B.
- Đánh giá của tác giả: Đồng tình với phán quyết phúc thẩm. Bản án sơ thẩm cứng nhắc khi chỉ dựa vào tên trên GCN QSDĐ. Cấp phúc thẩm đã đánh giá đúng bản chất sự việc: Trong quá trình chung sống, ông C đã đưa số vàng cho bà B cất giữ, khi mua nhà bà B là người giao vàng, ông C không yêu cầu xác nhận tài sản riêng; năm 2007 hai vợ chồng cùng đem nhà thế chấp vay vốn kinh doanh và cùng trả nợ. Những hành vi thực tế này chứng minh ý chí của ông C đã tự nguyện sáp nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của gia đình.
Kết quả và đóng góp
-
Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn diện các tiêu chí pháp lý phân định tài sản chung và riêng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và văn bản hướng dẫn.
- Làm rõ cơ chế áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý (khoản 3 Điều 33) và cơ chế chuyển hóa tài sản (sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung qua hành vi, giao dịch thực tế của vợ chồng).
- Phân tích ranh giới giữa quyền sở hữu trí tuệ (tài sản riêng) và quyền thụ hưởng hoa lợi, nhuận bút, thù lao phái sinh từ đối tượng sở hữu trí tuệ (tài sản chung).
-
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật của tác giả:
- Cần sửa đổi quy định tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP để đưa các khoản trợ cấp thất nghiệp và tiền bồi thường oan sai ra khỏi danh mục "thu nhập hợp pháp khác" thuộc tài sản chung, ghi nhận đúng bản chất là tài sản riêng gắn liền với nhân thân.
- Bổ sung quy định định lượng hoặc tiêu chí cụ thể để phân biệt giữa "tư trang cá nhân thiết yếu" (tài sản riêng) và "tư trang/trang sức có giá trị lớn" nhằm mục đích tích lũy của cải gia đình (tài sản chung).
- Hướng dẫn chi tiết cơ chế chứng minh việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung thông qua hành vi thực tế (như cùng thế chấp vay vốn, cùng quản lý, tôn tạo tài sản) để tránh việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ đơn thuần vào giấy chứng nhận quyền sở hữu.
-
Đóng góp so với các công trình trước:
- Khắc phục tính cục bộ của các nghiên cứu trước đây (vốn thường chỉ nghiên cứu riêng tài sản chung hoặc tài sản riêng, hoặc chỉ khảo sát trong phạm vi một địa phương hẹp).
- Đem lại cái nhìn tổng thể, đồng bộ trên cả hai diện: cơ sở lý luận đa chiều và thực tiễn giải quyết tranh chấp trên toàn quốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận tập trung chủ yếu vào chế độ tài sản theo luật định (statutory property regime), chưa đi sâu khai thác chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (contractual property regime) vốn là điểm mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Hướng mở rộng: Nghiên cứu mở rộng về các giao dịch liên quan đến tài sản mã hóa, tài sản kỹ thuật số trong thời kỳ hôn nhân; nghĩa vụ liên đới của vợ chồng đối với các khoản nợ phát sinh từ giao dịch kinh doanh riêng; và cơ chế bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình khi xử lý tài sản chung của vợ chồng trong tố tụng phá sản.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, Công chứng viên và cán bộ đăng ký quyền sử dụng đất tham khảo trong quá trình giải quyết án ly hôn, phân chia di sản thừa kế, chứng thực giao dịch tài sản.
- Nội dung giá trị nhất:
- Mục 2.1 và 2.2 của Chương 2 với việc phân tích chi tiết từng căn cứ pháp lý của Điều 33 và Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại Chương 3, cung cấp góc nhìn thực chứng về việc đánh giá chứng cứ chứng minh ý chí sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Câu hỏi thường gặp
1. Một bên vợ hoặc chồng dùng tiền trúng vé số trong thời kỳ hôn nhân để mua tài sản thì tài sản đó là tài sản chung hay riêng?
Theo điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tiền trúng thưởng xổ số là thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, khoản tiền trúng số và các tài sản được mua từ nguồn tiền này đều được xác định là tài sản chung của vợ chồng, không phụ thuộc vào việc ai là người bỏ tiền mua tấm vé số gốc.
2. Đất do một bên vợ/chồng đứng tên một mình trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi kết hôn có đương nhiên là tài sản riêng không?
Không. Căn cứ khoản 1 Điều 33 và Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn mặc nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Việc chỉ đứng tên một người trên giấy tờ không chứng minh đó là tài sản riêng, trừ trường hợp người đứng tên chứng minh được quyền sử dụng đất đó có được do thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng nguồn tiền từ tài sản riêng.
3. Tại sao tác giả cho rằng tiền trợ cấp thất nghiệp và tiền bồi thường oan sai không nên coi là tài sản chung của vợ chồng?
Tác giả lập luận rằng trợ cấp thất nghiệp (Điều 3 Luật Việc làm 2013) và bồi thường oan sai (Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017) là những khoản tiền mang "bản chất nhân thân" tuyệt đối, gắn liền với sự kiện mất việc làm hoặc tổn thất vật chất, tinh thần của riêng một cá nhân. Việc Nghị định 126/2014/NĐ-CP xếp các khoản này vào tài sản chung là chưa thỏa đáng với quyền sở hữu cá nhân.
4. Khi có tranh chấp mà hai bên không đưa ra được chứng cứ chứng minh tài sản thuộc sở hữu riêng thì Tòa án xử lý như thế nào?
Tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý tại khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: "Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".
5. Vàng bạc, trang sức đắt tiền của người vợ được mua trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung hay riêng?
Nếu trang sức có giá trị thông thường, phù hợp với sinh hoạt cá nhân thì được coi là tài sản riêng phục vụ nhu cầu thiết yếu (khoản 1 Điều 43). Tuy nhiên, nếu trang sức có giá trị lớn, đòi hỏi phải trích một khoản tài chính lớn từ thu nhập chung của gia đình để mua sắm thì phải được coi là một hình thức tích lũy của cải chung của vợ chồng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Minh Trang đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc cơ sở lý luận cũng như thực trạng áp dụng pháp luật về xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Thông qua việc phân tích thực tiễn xét xử và các án lệ điển hình, công trình chỉ ra các điểm nghẽn trong kỹ thuật lập pháp đối với các khoản thu nhập mang tính nhân thân và tiêu chí định lượng tài sản thiết yếu. Đây là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu, đào tạo luật học và hoạt động xét xử của ngành Tòa án.