Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình với đề tài "Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 và thực tiễn thực hiện" do sinh viên Dương Công Nữ thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Lan tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023).

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Trong quan hệ hôn nhân, bên cạnh đời sống tình cảm thì quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là nền tảng vật chất bảo đảm đời sống gia đình ấm no, hạnh phúc. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế kéo theo nhu cầu tham gia độc lập vào các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại của từng cá nhân vợ, chồng ngày càng gia tăng. Trong nhiều trường hợp, vợ chồng có nhu cầu phân định tài sản chung thành tài sản riêng để đầu tư kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng hoặc giải quyết các bất đồng nội bộ mà không muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân. Kế thừa các quy định từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã mở rộng và hoàn thiện chế định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định này tại Tòa án nhân dân và các tổ chức hành nghề công chứng vẫn phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập, đòi hỏi phải được nghiên cứu và hoàn thiện.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; phân tích, đánh giá thực trạng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; khảo sát thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân và tổ chức hành nghề công chứng; từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định cụ thể trong văn bản):

    1. Khái quát chung về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tìm hiểu khái niệm, ý nghĩa, các yếu tố tác động đến pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
    2. Làm rõ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như các văn bản pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và thực tiễn thực hiện thông qua kết quả giải quyết của Tòa án và văn phòng công chứng trên một số địa bàn.
    3. Trên cơ sở những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn, đề ra một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện có hiệu quả pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hiện hành về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan, cùng các vụ việc thực tế giải quyết tại Tòa án nhân dân và các tổ chức hành nghề công chứng.
    • Phạm vi nghiên cứu:
      • Về không gian và nội dung: Tập trung vào các quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (phong kiến, Pháp thuộc, miền Nam giai đoạn 1954–1975, pháp luật Việt Nam từ 1945 đến nay) và trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khảo sát thực tiễn tại một số địa bàn. Khóa luận giới hạn ở khía cạnh pháp luật nội dung, không đi sâu vào thủ tục tố tụng; không nghiên cứu các thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
      • Về thời gian: Khảo sát các quy định pháp luật và số liệu thực tiễn các vụ việc phát sinh từ năm 2014 đến năm 2023.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

  • Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết:

    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu gồm: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các Điều 3, 11, 13, 14, 24, 29, 33, 38, 39, 40, 41, 42, 64, 67, 68, 69, 71); Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 22, 24, 71, 207, 210, 213, 219); Luật Doanh nghiệp năm 2014 (các Điều 53, 110, 119, 126, 175).
    • Các văn bản pháp lý lịch sử và hướng dẫn thi hành: Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ; Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ 1936, Bộ Dân luật Giản yếu Nam kỳ 1883; Luật Gia đình 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ luật Dân sự 1972 (chính quyền Sài Gòn); Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000; Nghị định số 70/2001/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội.
    • Khái niệm cốt lõi: Tài sản chung của vợ chồng (sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia); thời kỳ hôn nhân; chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (việc tách một phần hoặc toàn bộ tài sản chung thành tài sản riêng mà không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Khóa luận dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân gia đình (trọng tâm là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng).
    • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, thống kê thực tiễn.
  • Nguồn dữ liệu:

    • Giáo trình, sách chuyên khảo: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2021); Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam - Tập 1; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường, 2002); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc Điện, 2002).
    • Luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cừ (2005); các luận văn thạc sĩ của Chư Minh Khôi (2015), Nguyễn Thị Hằng Vân (2016), Lưu Việt Thắng (2017), Lương Trọng Ba (2022).
    • Tạp chí chuyên ngành: Các bài báo nghiên cứu của Nguyễn Phương Lan (2002), Phùng Trung Tập (2012), Nguyễn Hồng Hải (2003) trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.
    • Thực tiễn áp dụng: Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân và hồ sơ công chứng thỏa thuận phân chia tài sản tại các tổ chức hành nghề công chứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng và việc chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại:

  1. Khái niệm và căn cứ xác định:

    • Tài sản chung của vợ chồng (Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014): Gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp chia tài sản theo Khoản 1 Điều 40); tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung; quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng); và tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý: trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
    • Thời kỳ hôn nhân (Khoản 13 Điều 3): Là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Khóa luận phân tích các mốc xác định đặc thù: đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền (tính từ ngày đăng ký trước đó theo Điều 13); chung sống như vợ chồng có đủ điều kiện rồi đăng ký kết hôn sau (tính từ ngày đăng ký kết hôn theo Khoản 2 Điều 14); hủy việc kết hôn trái pháp luật khi đã đủ điều kiện kết hôn (tính từ thời điểm đủ điều kiện theo Khoản 2 Điều 11); tuyên bố chết rồi trở về (khôi phục từ ngày kết hôn hợp pháp theo Điều 67); và hôn nhân thực tế theo Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (xác lập trước 03/01/1987 tính từ ngày bắt đầu chung sống; xác lập từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001 đăng ký trong thời hạn 2001–2003 tính từ ngày chung sống, sau 01/01/2003 tính từ ngày đăng ký).
    • Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Là việc tách một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc theo quyết định của Tòa án trên cơ sở quy định pháp luật, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên mà không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân.
  2. Ý nghĩa pháp lý:

    • Tạo cơ sở pháp lý linh hoạt để vợ chồng tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế riêng biệt, tôn trọng quyền tự do kinh doanh và tự định đoạt tài sản.
    • Cung cấp công cụ giải quyết xung đột, mâu thuẫn tài sản nội bộ mà không cần phải ly hôn, góp phần duy trì sự ổn định gia đình.
    • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba có giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.
    • Thể hiện bước phát triển tiến bộ của pháp luật về sở hữu tài sản của vợ chồng theo hướng bình đẳng giới.
  3. Các yếu tố tác động: Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc (Nghị quyết Đại hội XIII); sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế; ảnh hưởng của văn hóa truyền thống và tàn dư tư tưởng phong kiến "của chồng công vợ".

  4. Tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

Thời kỳ lịch sử Văn bản quy phạm tiêu biểu Quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Phong kiến Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) Không quy định việc chia tài sản khi hôn nhân tồn tại. Áp dụng chế độ công đồng toàn sản dưới quyền quản lý của người chồng; chỉ dự liệu phân chia khi một bên chết (Điều 374, 375, 376 Quốc triều hình luật) hoặc ly hôn.
Pháp thuộc Dân luật Bắc kỳ 1931, Dân luật Trung kỳ 1936, Dân luật Giản yếu Nam kỳ 1883 Không cho phép chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Chế độ tài sản dựa trên hôn ước hoặc luật định (công đồng toàn sản). Tại Nam kỳ, theo án lệ người chồng sở hữu toàn bộ gia sản; việc phân chia chỉ diễn ra khi một bên chết hoặc ly hôn.
Miền Nam (1954–1975) Luật Gia đình 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ luật Dân sự 1972 Thừa nhận chế độ tài sản ước định (hôn ước) và luật định. Luật 1959 duy trì công đồng toàn sản; Sắc luật 15/64 và Dân luật 1972 áp dụng chế độ công đồng động sản và tạo sản. Dân luật 1972 cho phép vợ chồng yêu cầu Tòa án tuyên phân biệt tài sản trong một số trường hợp.
Nhà nước ta (1959–2000) Luật HN&GĐ 1959, Luật HN&GĐ 1986, Luật HN&GĐ 2000 - Luật 1959: Chỉ áp dụng chế độ tài sản chung duy nhất, chỉ chia khi ly hôn hoặc một bên chết.
- Luật 1986 (Điều 18): Lần đầu ghi nhận chia tài sản khi hôn nhân tồn tại nếu có "lý do chính đáng".
- Luật 2000 (Điều 29, 30): Giới hạn trong 3 căn cứ: đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc lý do chính đáng khác.

Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các luật liên quan:

  1. Quyền yêu cầu và chủ thể chia tài sản (Điều 38 Luật HN&GĐ 2014, Điều 219 BLDS 2015):

    • Quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền nhân thân gắn liền với tư cách vợ chồng, chỉ có vợ hoặc chồng mới có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • Người thứ ba (chủ nợ) không có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản hoặc thanh toán nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự.
    • Trường hợp một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24 BLDS 2015 do phá tán tài sản, nghiện ngập, cờ bạc): người này vẫn có quyền thỏa thuận chia tài sản chung, hoặc bên kia có quyền yêu cầu Tòa án chia để ngăn chặn hành vi phá tán tài sản.
    • Trường hợp một bên bị mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 BLDS 2015): do bên kia là người đại diện theo pháp luật/giám hộ (Khoản 3 Điều 24 Luật HN&GĐ 2014) nên không thể tự thỏa thuận với chính mình; bên còn lại chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung.
  2. Phương thức và phạm vi chia tài sản:

    • Thỏa thuận chia tài sản: Vợ chồng tự do thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung mà không cần phải chứng minh lý do như Luật năm 2000. Hình thức thỏa thuận bắt buộc phải lập thành văn bản; văn bản được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 38).
    • Tòa án giải quyết: Khi vợ chồng không thỏa thuận được, Tòa án giải quyết dựa trên các nguyên tắc: chia đôi tài sản nhưng có tính đến hoàn cảnh gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung (lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập); bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp; và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (Khoản 3, 4 Điều 39 Luật HN&GĐ 2014).
    • Phạm vi chia: Chia một phần tài sản chung (phần còn lại vẫn thuộc sở hữu chung để duy trì nhu cầu gia đình) hoặc chia toàn bộ tài sản chung (tiềm ẩn rủi ro về an toàn tài chính gia đình và nguy cơ trốn tránh nghĩa vụ).
  3. Hiệu lực của việc chia tài sản chung:

    • Thời điểm có hiệu lực (Điều 39 Luật HN&GĐ 2014):
      1. Do vợ chồng thỏa thuận và ghi trong văn bản; nếu không ghi thì tính từ ngày lập văn bản.
      2. Trường hợp tài sản mà giao dịch phải tuân theo hình thức nhất định thì có hiệu lực từ thời điểm hoàn thành thủ tục hình thức theo quy định pháp luật (công chứng, chứng thực, đăng ký).
      3. Trường hợp Tòa án giải quyết thì có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
      4. Quyền, nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản có hiệu lực vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
    • Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung (Điều 41 Luật HN&GĐ 2014): Vợ chồng có quyền lập văn bản thỏa thuận chấm dứt hiệu lực việc chia tài sản chung. Kể từ ngày văn bản có hiệu lực, tài sản được xác định lại theo Điều 33 và Điều 43; phần tài sản đã chia vẫn thuộc sở hữu riêng trừ khi vợ chồng thỏa thuận nhập lại; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia trở lại là tài sản chung. Nếu việc chia trước đó do Tòa án quyết định thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực phải được Tòa án công nhận.
    • Các trường hợp chia tài sản chung bị vô hiệu (Điều 42 Luật HN&GĐ 2014):
      1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
      2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định pháp luật.
  4. Mối quan hệ với Luật Doanh nghiệp năm 2014 khi tài sản chia là phần vốn góp, cổ phần:

    • Công ty TNHH hai thành viên trở lên (Điểm b Khoản 1 Điều 53): Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho bên vợ/chồng không phải thành viên phải ưu tiên chào bán cho các thành viên còn lại; chỉ được chuyển nhượng nếu các thành viên khác không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày.
    • Công ty cổ phần (Điều 110, 119, 126): Tự do phân chia, chuyển nhượng cổ phần, trừ trường hợp bị hạn chế đối với cổ đông sáng lập trong 03 năm đầu.
    • Công ty hợp danh (Khoản 3 Điều 175): Thành viên hợp danh chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp nếu được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại. Trường hợp không thể phân chia phần vốn bằng hiện vật, bên trực tiếp kinh doanh tiếp tục quản lý và thanh toán giá trị chênh lệch cho bên kia (Điều 64 Luật HN&GĐ 2014).

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương này phân tích thực tiễn áp dụng và đề xuất định hướng hoàn thiện:

  1. Thực tiễn giải quyết tại Tòa án và tổ chức hành nghề công chứng:

    • Tại Tòa án nhân dân: Phân tích thực tiễn xét xử các tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại. Các vướng mắc chủ yếu phát sinh từ việc thu thập chứng cứ chứng minh nguồn gốc tài sản, đánh giá công sức đóng góp của bên làm công việc nội trợ, và việc giải quyết các tranh chấp tài sản có sự đan xen giữa tài sản chung và phần vốn góp doanh nghiệp.
    • Tại tổ chức hành nghề công chứng: Thực tiễn chứng nhận các văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung. Công chứng viên gặp khó khăn trong việc xác minh thỏa thuận có rơi vào trường hợp vô hiệu theo Điều 42 Luật HN&GĐ 2014 hay không, đặc biệt là việc phát hiện ý đồ tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ ngân hàng hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
  2. Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

    • Cụ thể hóa bằng văn bản hướng dẫn các tiêu chí xác định hành vi "ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình" tại Khoản 1 Điều 42 để cơ quan giải quyết và tổ chức công chứng có căn cứ áp dụng thống nhất.
    • Ban hành quy định chi tiết về trình tự, thủ tục Tòa án công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung (quy định hình thức văn bản ban hành, thẩm quyền và thủ tục thụ lý theo pháp luật tố tụng dân sự).
    • Xây dựng cơ chế liên thông thông tin và đăng ký tài sản để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba (chủ nợ), ngăn ngừa tình trạng vợ chồng lợi dụng quyền tự do thỏa thuận chia toàn bộ tài sản chung nhằm tẩu tán tài sản.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:

    • Hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển của chế định chia tài sản chung của vợ chồng qua các giai đoạn lịch sử pháp lý Việt Nam, làm rõ bước chuyển từ chế độ công đồng toàn sản sang chế độ tài sản hỗn hợp đề cao quyền tự định đoạt.
    • Phân tích chi tiết các quy định thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ, phương thức, phạm vi, hiệu lực pháp luật, các trường hợp vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
    • Phân định rõ ràng cơ chế xử lý tài sản chung khi có một bên mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, cũng như quy tắc giải quyết phần vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014.
  • Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

    • Hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đối với Điều 41 (thủ tục Tòa án công nhận văn bản chấm dứt hiệu lực việc chia tài sản) và Điều 42 (tiêu chí xác định thỏa thuận vô hiệu do xâm phạm quyền lợi gia đình hoặc trốn tránh nghĩa vụ).
    • Nâng cao cơ chế phối hợp và tra cứu thông tin tài sản giữa Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng đăng ký đất đai và các tổ chức hành nghề công chứng nhằm phòng ngừa việc phân chia tài sản nhằm tẩu tán nghĩa vụ dân sự.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước:

    • Khóa luận đã cập nhật và phân tích sâu chế định "chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung" (Điều 41 Luật năm 2014) thay thế cho khái niệm "khôi phục chế độ tài sản chung" chưa chính xác của Luật năm 2000.
    • Luận giải chi tiết sự giao thoa và xung đột quy phạm giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 trong việc xử lý tài sản chung là phần vốn góp trong các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là công dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam; không mở rộng nghiên cứu các thỏa thuận phân chia tài sản có yếu tố nước ngoài hoặc tài sản của vợ chồng tại nước ngoài; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện hệ thống thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết yêu cầu chia tài sản chung tại Tòa án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp luật quốc tế; nghiên cứu hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự liên quan đến thủ tục giải quyết việc dân sự về công nhận thỏa thuận phân chia hoặc chấm dứt hiệu lực phân chia tài sản chung của vợ chồng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình; các nhà nghiên cứu lập pháp; luật sư, thẩm phán, công chứng viên và cán bộ tư pháp - hộ tịch đang công tác thực tế.
  • Phần nội dung có giá trị sử dụng cao:
    • Bảng so sánh và phân tích quá trình tiến hóa lịch sử của chế định tài sản vợ chồng qua các thời kỳ (Chương 1).
    • Chuyên mục phân tích pháp lý về thỏa thuận chia tài sản chung vô hiệu theo Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và kỹ năng công chứng văn bản phân chia tài sản (Chương 2 và Chương 3).
    • Hệ thống các quy định đối chiếu giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc phân chia phần vốn góp, cổ phần của vợ chồng (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

  • Ai là chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân? Người thứ ba có quyền yêu cầu không? Theo quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền gắn liền với nhân thân, chỉ duy nhất vợ hoặc chồng mới có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết. Người thứ ba (như chủ nợ) không có quyền yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu vợ/chồng thực hiện nghĩa vụ tài sản hoặc thanh toán nợ theo quy định của pháp luật dân sự.

  • Khi một bên vợ hoặc chồng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc chia tài sản chung được thực hiện như thế nào? Trường hợp một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24 BLDS 2015), người này vẫn có quyền thỏa thuận, hoặc người kia có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản để ngăn ngừa hành vi phá tán tài sản. Trường hợp một bên bị mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 BLDS 2015), do bên còn lại là người giám hộ đương nhiên (Khoản 3 Điều 24 Luật HN&GĐ 2014) không thể tự thỏa thuận với chính mình, nên bên còn lại chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản chung.

  • Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được xác định như thế nào? Căn cứ Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thời điểm có hiệu lực được xác định theo 4 trường hợp: (1) Thời điểm do vợ chồng thỏa thuận ghi trong văn bản (nếu không ghi thì tính từ ngày lập văn bản); (2) Thời điểm hoàn thành hình thức theo quy định nếu tài sản yêu cầu hình thức bắt buộc (công chứng, chứng thực, đăng ký); (3) Ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật (nếu do Tòa án giải quyết); (4) Quyền, nghĩa vụ với người thứ ba xác lập trước thời điểm có hiệu lực vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý trừ khi có thỏa thuận khác.

  • Những trường hợp nào thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu? Căn cứ Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thỏa thuận vô hiệu khi: (1) Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền lợi của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự/không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình; (2) Nhằm trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ, nộp thuế, nghĩa vụ tài chính với Nhà nước hoặc nghĩa vụ thanh toán khi bị tuyên bố phá sản.

  • Khi tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thì phân chia như thế nào? Căn cứ Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 kết hợp Điểm b Khoản 1 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014, bên không phải thành viên công ty chỉ được nhận chuyển nhượng phần vốn góp khi người vợ/chồng là thành viên đã chào bán cho các thành viên còn lại trong công ty nhưng họ không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày. Trường hợp không thể phân chia bằng hiện vật, bên trực tiếp kinh doanh tiếp tục quản lý và thanh toán phần giá trị chênh lệch tương ứng cho bên kia.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Công Nữ đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và thực trạng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Công trình làm rõ các khía cạnh pháp lý phức tạp về quyền yêu cầu, điều kiện hiệu lực, các trường hợp vô hiệu cũng như sự giao thoa với pháp luật dân sự và pháp luật doanh nghiệp. Dựa trên việc phân tích những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn Tòa án và công chứng, khóa luận đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật thiết thực nhằm bảo đảm sự bình đẳng quyền tự định đoạt của vợ chồng gắn liền với việc bảo vệ quyền lợi của gia đình và người thứ ba.