CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN PHỤ NỮ VÀ BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ BĂNG PHÁP LUẬT 1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN PHU NU VÀ BẢO VỆ QUYỀN PHU NU BẰNG PHÁP LUAT 1.Khái niệm về quyền phụ nữ 1. Cơ sở lý luận của quyền phụ nữ Lịch sử xã hội loài người đã trải qua giai đoạn mà địa vị của người phụ nữ được tôn vinh. Người phụ nữ có nhiều quyền hành và địa vị “vinh dự” hơn người đàn ông.
Giai đoạn ấy, theo Ph. Ang ghen là giai đoạn của “chế độ mẫu quyền". Nhưng tồi. chế độ mẫu quyền bị lật đổ và thay vào đó là chế độ phụ quyền, người đàn ông đã dành lấy vị trí đó của người phụ nữ, Ph.Ang ghen cho rằng : “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử lớn nhất của giới phụ nữ".
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” Ang ghen chỉ ra rằng : Ở “chế độ mẫu quyền” với hai hình thức gia đình cơ bản là gia đình huyết tộc và gia đình Pu na lu an, người đàn bà có địa vị và vai trò quan trọng trong gia đình. Đứa con sinh ra được xác định theo dòng họ mẹ, người mẹ được quyết định vấn đề thừa kế tài sản. Vì thế mà quyền lực trong gia đình thuộc về người phụ nữ. Khi chuyển sang hình thức gia đình đối ngẫu, địa vị của người đàn ông trong gia đình được phát triển một cách đáng kể.
Trong gia đình đối ngẫu, đứa con không chỉ biết mẹ mà còn biết đến người bố đẻ thực sự của mình. Tuy nhiên, quyền lực của người phụ nữ vẫn được thừa nhận. Chế độ mẫu quyền bị lật đổ, khi trong xã hội có sự phân công lao động diễn ra sâu sắc. Sự phân công lao động diễn ra trong gia đình, người đàn ông, người chồng có nhiệm vụ đi tìm kiếm thức ăn, nên nắm giữ những công cụ lao động cần thiết cho việc tìm kiếm thức ăn.
Mat khác, khi sự phân công lao động xã hội diễn ra sâu sắc, của cải làm ra nhiều, xuất hiện của dư thừa. Gia đình đối ngẫu chiếm lấy làm của riêng. Người đàn ông nắm được địa vị kinh tế trong gia đình nên mong muốn lập lại trật tự kế thừa tài sản. Chế độ huyết tộc theo mẹ bị đánh đổ thay vào đó là chế độ huyết tộc theo cha.
Vì lẽ đó, người đàn ông để biết đích thực đứa con mà ông ta sinh ra, đã buộc người đàn bà phải tuyệt đối chung tình với mình. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện mà mục đích là “ Quyển chỉ phối của người đàn ông trong gia đình, sự sinh để con cái và những con cái này chỉ có thể là máu mủ của người đàn ông đẻ ra là để thừa kế tài sản của người dy” [3, tr 93]. Như vậy, chế chế độ tư hữu là nguyên nhân sâu Xa dẫn đến sự bất bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà. Và chừng nào chế độ tư hữu ấy chưa mất đi thì không thể có cơ sở cho sự bình đẳng nam nữ.
Đây cũng là những minh chứng xác đáng để chúng ta lý giải rằng, trong chế độ xã hội phong kiến, tư sản địa vị của người phụ nữ không thể được bình đẳng với nam giới. Muốn thực hiện được bình đẳng nam nữ, bảo vệ quyền phụ nữ thì phải xây dựng một xã hội mới, một xã hội không còn áp bức bóc lột của người này đối với người khác, của giai cấp này đối với giai cấp khác. Đây cũng là luận điểm hết sứquan trọng trong lý thuyết khoa học về giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tạo tiền đề lý luận để chúng ta đi sâu nghiên cứu quyền phụ nữ và bảo vệ quyền phụ nữ. Quyền con người, quyền phụ nữ không phải là một khái niệm trừu tượng, cũng không phải là quyền cá nhân con người mang tính tự nhiên bẩm sinh mà luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội, gắn với từng trình độ phát triển và tiến bộ xã hội, chịu sự hạn định của chế độ kinh tế, đặc biệt của chế độ chính trị - Nhà nước [61, tr 16].
* Khai nệm quyền phụ nữ Theo nghĩa thông thường thì quyền được hiểu là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi [50, tr 815]. Trong khoa hoc luật, khái niệm về quyền phụ nữ chưa được làm sáng tỏ. Để tiếp cận khái niệm về quyền phụ nữ, chúng ta không thể tách rời với việc nghiên cứu khái niệm về quyền con người. - Khái niệm quyền con người.
Quyền con người là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia, chưa có một định nghĩa chính thức về quyền con người mà chỉ dừng lại ở việc liệt kê các quyền con người. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu luật học khi xem xét vấn đề này có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa về quyền con người. Trên cơ sở tìm hiểu những ý kiến của các nhà khoa học, chúng tôi nhất trí với cách hiểu sau về quyền con người.
Bởi vì, theo cách hiểu này chúng ta mới có thể cắt nghĩa được bản chất pháp lý của quyền con người. “Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với Nhà nước và với những cá nhân con người khác” [ 61, tr 16]. Nội dung quyền con người. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung quyền con người.
Do vậy, việc phân loại nội dung quyền con người cũng khác nhau. Theo phương pháp tiếp cận của khoa học pháp lý, quyền con người được chia thành những nhóm chính: + Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền bầu cử và ứng cử; quyền bình đẳng nam nữ; quyền tự do tín ngưỡng; quyền tự do ngôn luận; quyền tự do báo chí; quyền tự do thông tin; Quyền được hội họp. + Các quyền dân sự (quyền tự do con người) bao gồm: Quyền tự do đi lại cư trú trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được an toàn, bí mật về thu tín, điện thoại; quyền khiếu nại, tố cáo. + Các quyền kinh tế - xã hội bao gồm: Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế; quyền học tập; quyền nghiên cứu, phát minh, sáng chế; quyền được bảo vệ sức khoẻ; quyền được bảo hộ HN&GD.
- Khái niệm về quyền phụ nữ. Trên cơ sở khái niệm quyền con người, chúng tôi cho rằng khái niệm quyền phụ nữ cần phải được nghiên cứu trong mối liên hệ khăng khít với quyền con người. Bởi vì, phụ nữ cũng như nam giới họ phải được hưởng tất cả những quyền con người mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền phụ nữ là một khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của phụ nữ.
Phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, dé bi tổn thương. Do đó, việc xác định và ghi nhận các quyền con người cho họ, đặc biệt đảm bảo trên cơ sở của tiêu chí bình đăng là cần thiết. Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta tiến hành bảo vệ quyền con người của phụ nữ. Khi tiếp cận khái niệm quyền phụ nữ, quyền con người được hiểu theo nghĩa xác định hơn, nó phản ánh những quyền bức xúc nhất của con người được đặt ra trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, đòi hỏi sự phối hợp trách nhiệm của cả cộng đồng quốc tế trong việc phấn đấu vì quyền bình đẳng nam nữ trên khắp thé giới.
Chính vì vậy, mặc dù đã có rất nhiều Văn kiện quốc tế về quyền con người nhưng chúng ta vẫn xây dựng những quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong các văn bản pháp luật riêng. Có như vậy, người phụ nữ mới thực sự được bảo đảm khỏi sự phân biệt đối xử. Nói một cách khác, sự phân biệt đối xử chính là nguyên nhân làm cho người phụ nữ không được hưởng những quyền con người giống như nam giới [Xem mục 1. Khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ bang pháp luật.
Tiếp cận khái niệm “Quyền con người” chúng ta nhận thấy, khi xem xét quyền con người phải xuất phát từ mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước. “ Quyền con người không phải là một nhân tố đầu tiên có trước Nhà nước mà phải bằng pháp luật Nhà nước ghi nhận và thiết định mới trở thành hiện thực” [ 61, tr 18]. Chính vì lẽ đó, quyền con người, một mặt mang tính chất tự nhiên “ quyền mà con người vốn có, không phải ai ban tặng cho họ” nhưng mặt khác các đặc quyền “quyền tự nhiên” phải được pháp luật chấp nhận thì mới trở thành “quyền con người”. Như vậy, có nhiều phương thức để bảo vệ quyền con người, song phương thức quan trọng và không thể thiếu ấy chính là việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật.
Theo đó, bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật nói riêng trước hết phải được hiểu là sự ghi nhận các quyển con người bang pháp luật và phải bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Mặt khác, do phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy quyền phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật phải ghi nhận quyền phụ nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới. Chính vi vậy, bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng, bảo vệ quyền con người nói chung phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của Nhà nước. Nhà nước ghi nhận các quyền con người , quyền phụ nữ và bảo đảm cho những quyền này được thực hiện.
Đó cũng chính là nội dung của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật. Ý nghĩa của việc ghi nhận vấn dé bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật. Ghi nhận việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật không chỉ là việc ghi nhận các quyền con người của phụ nữ mà còn bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện. “Dam bảo bằng pháp luật, một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người được thực hiện” [61, tr 50].
Điều này càng có ý nghĩa sâu sắc khi quyền của phụ nữ trên thực tế thường hay bị xâm phạm.