Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHU NU VÀ QUYEN CON NGƯỜI CUA PHU NU 1. Một số van dé lý luận về phụ nữ 1. Các quan điểm về phụ nữ Phụ nữ và nam giới là hai bộ phận cầu thành nên xã hội loài người. Tuy nhiên, dé trả lời cho câu hỏi phụ nữ là ai, thực sự không đơn giản, vì khái niệm phụ nữ được tiếp cận dưới nhiều góc độ và phương diện khác nhau như xã hội học, giới tính học, pháp lý, tâm lý học,.
Hơn nữa, ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới, quan điểm về phụ nữ cũng rất khác nhau, có quốc gia đề cao vai trò của phụ nữ, có quốc gia không thực sự coi trọng vai trò của phụ nữ. - Dưới góc độ xã hội học: Phụ nữ là bộ phận của cơ cau xã hội. Dựa vào tiêu chí, đặc điểm nhân khâu, kết câu xã hội được phân thành nam và nữ, người gia và người trẻ, người lớn và trẻ em, người có trình độ dân trí cao hay thấp. Với cách phân chia này, phụ nữ là một thành phần không thể tách rời khỏi kết cau xã hội và phụ nữ chính là một trong những yếu tô cau thành nên xã hội loài người.
- Dưới góc độ giới tính học: Phụ nữ là khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai va sinh nở khi cơ thé họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường”. - Dưới góc độ pháp lý: Phụ nữ hay nữ giới được xác định là những chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định mà không phải là nam giới. * Sina Yayongyear (2011), Quyên phụ nữ trong pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, khóa luận tôt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. Như vậy, có thé thấy, dưới góc độ xã hội học, giới tính học hay pháp lý thì phụ nữ đều được xác định thông qua sự phân chia về giới tính.
Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ: Dưới góc độ pháp lý thì việc tiếp cận khái niệm phụ nữ với tư cách là chủ thé có địa vị pháp lý”. Điều đó có nghĩa là phụ nữ là những người có quyền, có nghĩa vụ pháp lý và là đối tượng bảo vệ của pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia. Theo pháp luật quốc tế, phụ nữ là con người và được hưởng quyền con người, với tư cách là những người yếu thé trong xã hội. Trong pháp luật các quốc gia, phụ nữ được xác định là công dân của quốc gia.
Pháp luật quốc gia sẽ xác lập địa vị pháp lý của phụ nữ dựa trên những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia. Cho nên địa vị pháp lý của phụ nữ ở các quốc gia khác nhau là khác nhau. VỊ trí, vai tro của phụ nữ trong xã hội Tại Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ toàn cầu năm 2008 diễn ra tại Hà Nội - Việt Nam, trong Bản báo cáo đầu tiên về hoàn cảnh của phụ nữ, Jean Fabre - người đặc trách truyền thông trong chương trình phát triển của Liên hợp quốc, cho biết: “Những phân tích của chúng tôi chứng tỏ rằng sự tiễn bộ của xã hội và kinh tế sẽ mau chóng hơn nếu người ta ưu tiên dau tư vào phụ nữ. Van dé này không chỉ biểu hiện sự công bằng mà còn nhằm đem lại việc quản lý tốt hơn.
Mỗi nhóm xã hội, môi nhóm giới tinh luôn có những vấn đề riêng của nó. Sự tham gia của phụ nữ vào những cơ cầu hệ trọng sẽ cho phép xã hội thay đổi cách nhìn và có những sự lựa chọn hữu ích hơn "4. Để đánh giá Sự tham gia của phụ nữ, người ta kết hợp tỷ lệ cán bộ phụ nữ cấp trung và cấp cao, tỷ lệ lợi tức của phụ nữ so với lợi tức quốc gia. Qua bản báo cáo ấy, người ta được biệt có 10 quôc gia đứng đâu về sô phụ nữ tham gia vào các 3 Sina Yayongyear (2011), Quyên phụ nữ trong pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
4 Viện khoa học pháp ly - Bộ Tư pháp (2004), Công ước của Liên hop quốc va pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. lĩnh vực kinh tế và chính trị: Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Canada, New Zealand, Hà Lan, Mỹ, Áo, Ý. Tại Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động là 73%Ẻ.
Trong vòng 20 năm qua, tại các nước A rap, ty lệ phụ nữ được xóa nạn mù chữ đã tăng 68%. Nhìn chung, hoàn cảnh của phụ nữ đã được cải thiện rất nhiều trong phần lớn các nước Ả rập. Ví dụ: người ta tính ra rằng ở cấp đại học, cứ 3 sinh viên thì có 2 sinh viên nữ, trong khi cách đây 20 năm, 3 nam mới có 1 nữ. 32 quốc gia đã có nhiều nữ sinh viên hơn nam sinh viên.
Không những tỷ lệ xóa nạn mù chữ trong giới nữ đã gia tăng, mà nhiều người trong số họ còn đạt được những hoc vi cao hơn trước kia. Tại Phần Lan, tỷ lệ nữ sinh viên so với nam sinh viên là 139%, tại Na Uy - 116%, Pháp - 114%, Nhật Bản - 66%, Iran - 47%, Togo - 22%. Tại Việt Nam, ty lệ tốt nghiệp tiểu học của nữ sinh là 91,5%, trung học cơ sở là 82,6%, trung hoc phổ thông 63,1%°. Tỷ lệ thoát nạn mù chữ của phụ nữ tại 3 nước: Uruguay, Jamaica và Nicaragua cao hơn so với nam giới”.
Từ khi có giải Nobel năm 1901, 4,4% giải Nobel về hòa bình đã được trao cho phụ nữ. Nếu tính tất cả các lĩnh vực, số phụ nữ đoạt giải Nobel đã lên đến 28 người, trong đó 9 phụ nữ đoạt giải Nobel hòa bình và 8 người được giải Nobel về văn học. Về y khoa, phụ nữ đoạt giải Nobel chiếm tỷ lệ 2,5%, hóa học - 3%, vật lý - 1,3%. Trong 192 đại diện thường trực ở Liên hợp quốc có 8 phụ nữ, 11% nhân viên cao cấp tại các cơ quan của Liên hợp quốc là phụ nữ.
Tỷ lệ phụ nữ thay đổi tùy theo từng tô chức: 0% với Tổ chức thương mại thế giới (WTO), 2,4% với Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), 21,5% với Quỹ Nhi ” http://www.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=35730&print=true 5 Nguồn: http://www.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=35730&print=true 7 Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc, Con đường tới bình đẳng giới: Công ước CEDAW, Cương lĩnh hành động Bắc Kinh và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs). đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Trong số 27 tổ chức quốc tế thì có 4 t6 chức do phụ nữ lãnh đạo. Phụ nữ Úc và New Zealand được quyền bầu cử từ năm 1893, Phần Lan và Na Uy năm 1907, Anh và Đức năm 1918, Mỹ năm 1920, Pháp năm 1946, Việt Nam năm 1946, Lào năm 1974.
Phụ nữ Thụy Sỹ phải chờ tới năm 1971 mới được bầu cử, phụ nữ Liechtenstein thì tới tận năm 1984. Còn đối với phụ nữ các quốc gia Ả rập thì việc được quyền bầu cử vẫn còn nằm trong tương lai, khi mà các giáo lý của Hồi giáo vẫn ảnh hưởng nặng né lên các quyền con người của phụ nữ ở các quốc gia nay’. Có 50% phụ nữ trong Chính phủ Thụy Điền. Đó là chính phủ đầu tiên trên thé giới đạt được sự cân bằng giữa nam và nữ.
Kỷ lục thé giới về tỷ lệ phụ nữ là dân biểu thuộc Phan Lan với 39%. Tiếp theo là Na Uy 35%, Thuy Điển 34%. Từ trước đến nay, chỉ có 26 phụ nữ được bầu vào chức vụ lãnh đạo một quốc gia hoặc một chính phủ (con số ấy không bao gồm các nữ hoàng hoặc nữ thủ tướng được bổ nhiệm vì họ không phải do cử tri bầu lên). Hiện có 12 quốc gia trong đó phụ nữ là tổng thống hay thủ tướng, điển hình là Hàn Quốc, Philippin và Đức.
Về hình thức, quyền lực chính trị rộng lớn nhất do một phụ nữ nắm giữ đang thuộc Nữ hoàng Anh Elisabeth II. Bà là nguyên thủ quốc gia của Vương quốc Anh và 18 nước khác: Canada, Úc, New Zealand. Tuy nhiên, lại có 5Š quốc gia trong đó sỐ chế của phụ nữ tại nghị viện rất ít và thậm chí. chăng có chế nào.
Ví dụ: 0% tại Cô-oét và nhiều nước Ả rập khác; 1% tại Hàn Quốc, Côngô, Tôgô; 2% tại Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Malta’. Tại Việt Nam, tỷ lệ nữ giới là đại biểu quốc hội là 24,3%, trong khối cơ quan đảng ở cấp trung ương Š Dang Thị Hồng Tuyến- Pham Thùy Linh, Đạo hồi và ảnh hưởng của nó tới quyén của phụ nữ ở một số nước châu A, Tạp chí Nghề Luật, số 3/2011, tr. ? Sina Yayongyear (2011), Quyên phụ nữ trong pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 nhiệm kỳ 2005-2011 là 10%, phụ nữ tham gia các cơ quan hành chính là 20%, ở địa phương là 30,2% giai đoạn năm 2005-2011.
Hiện nay, đã có 41 nước đã không ký Công ước CEDAW do Liên Hợp Quốc thông qua năm 1979. So với Công ước quốc quốc tế của Liên hợp quốc về quyền dân sự, chính trị của con người năm 1966 (ICCPR) và Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con người năm 1966 (ICESCR), thì Công ước CEDAW có quá ít các quốc gia tham gia. Tại nhiều nơi, phụ nữ và nam giới không bình đắng trước pháp luật, ví dụ: một người đàn ba A rap Saudi hoặc Iran không thé đi du lịch nêu không được người chồng ưng thuận'”. Những quốc gia không ký công ước nói trên da số là các nước Ả rập và Hồi giáo (thuộc châu Á, châu Phi) cùng với Monaco và Liechtenstein (thuộc châu Âu).
Hiện có 70% những người nghèo khổ trên thé giới (tông số lên tới 1,3 tỉ người) là phụ nữ và tỷ lệ này còn gia tăng. Ngay cả một nước tiên tiễn như Mỹ vẫn có 62% số người nghèo là phụ nữ, trong khi đó năm 1940 thì tỷ lệ ấy chỉ có 40%. Hiện nay, 60% trong số 130 triệu trẻ em không được cắp sách đến trường là các bé gái. Trong số 900 triệu người mù chữ trên thế giới có 2/3 là phụ nữ.
1 triệu bé gái vị thành niên (đa số ở châu A) đã bị cưỡng bức đi làm gái diém. Cứ 3 phụ nữ thì có 1 là nạn nhân của một vụ án gây ra bởi người tình hoặc bạn cũ.