Tổng quan luận án
Chế định tài sản của vợ chồng là một trong những nội dung cốt lõi của pháp luật hôn nhân và gia đình. Luận án tiến sĩ luật học "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Cừ thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Dân sự, mã số 5.07, bảo vệ năm 2005 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đinh Trung Tụng và TS. Hà Thị Mai Hiên) đã tập trung nghiên cứu toàn diện về chế định này.
Về tính cấp thiết, tác giả phân tích rằng quan hệ hôn nhân sau khi được xác lập luôn mang tính cộng đồng sâu sắc. Bên cạnh quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là cơ sở vật chất bảo đảm đời sống chung của gia đình và việc thực hiện các chức năng xã hội. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã có bước phát triển quan trọng khi quy định tương đối cụ thể về chế độ cộng đồng tạo sản (các điều 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 95). Tuy nhiên, quá trình áp dụng luật thực định vào đời sống xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bộc lộ nhiều vướng mắc:
- Một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 mới dừng lại ở tính chất định khung, nguyên tắc chung;
- Văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn áp dụng còn thiếu, chưa cụ thể và chưa theo kịp sự biến đổi của các quan hệ kinh tế - dân sự;
- Thực tiễn xét xử của ngành Tòa án qua các báo cáo tổng kết hàng năm cho thấy các tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng là loại việc phức tạp, nhạy cảm, có sự bất thống nhất trong nhận thức và đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như khó khăn trong công tác thi hành án.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, phân tích các quy định của luật thực định về chế độ tài sản của vợ chồng, khảo sát thực tiễn áp dụng tại Tòa án, phát hiện những bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng: xây dựng khái niệm khoa học, xác định đặc điểm, vai trò, ý nghĩa; khảo cứu có hệ thống lịch sử pháp luật Việt Nam và pháp luật hôn nhân gia đình của một số quốc gia trên thế giới.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cùng các ngành luật liên quan (Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai); làm rõ tính kế thừa, phát triển, các điểm mới cũng như các điểm bất cập, thiếu thống nhất.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua hoạt động xét xử của ngành Tòa án đối với các vụ việc tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng.
- Đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung chủ yếu vào hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng tại Việt Nam, đặt trong mối liên hệ so sánh với lịch sử lập pháp dân sự - hôn nhân gia đình Việt Nam qua các thời kỳ và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, gắn liền với thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các nhóm công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng:
- Nhóm các bài viết chuyên khảo trên các ấn phẩm nghiên cứu pháp lý: Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật. Các bài viết này chủ yếu dừng lại ở việc phản ánh một số vướng mắc cá biệt hoặc đề xuất sửa đổi từng điều khoản đơn lẻ.
- Nhóm giáo trình giảng dạy đại học: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Giáo trình Kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự tại các cơ sở đào tạo luật. Nhóm tài liệu này cung cấp khối lượng kiến thức khái quát phục vụ chương trình đào tạo cử nhân và bồi dưỡng nghiệp vụ chức danh tư pháp.
- Nhóm sách tham khảo phổ thông: Các tập sách hỏi đáp pháp luật của các tác giả Nguyễn Thế Giai, Nguyễn Ngọc Điệp, Trần Văn Sơn, tập trung vào việc giải đáp tình huống hoặc trích dẫn văn bản quy phạm pháp luật.
- Nhóm khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ luật học: Đề tài của Nguyễn Văn Huyên ("Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986"), đề tài của Nguyễn Hồng Hải ("Xác định tài sản của vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn"). Các công trình này chủ yếu phân tích các quy định dựa trên các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành ở thời điểm nghiên cứu.
- Nhóm sách tham khảo lịch sử pháp lý: Cuốn "Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời kỳ Pháp thuộc" của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp; cuốn "Chế độ hôn sản và thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam" của Nguyễn Mạnh Bách, nghiên cứu chế độ tài sản ở góc độ lịch sử phát triển trước khi Luật năm 2000 có hiệu lực.
- Các công trình do tác giả trực tiếp tham gia: Sách tham khảo "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" (đồng tác giả với ThS. Ngô Thị Hường); đề tài cấp Viện "Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp. Các công trình này chủ yếu giải thích nội dung các điều luật cụ thể.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Cho đến thời điểm tác giả thực hiện, khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một công trình cấp tiến sĩ nào nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, toàn diện và có tính hệ thống về chế định chế độ tài sản của vợ chồng từ góc độ lý luận, lịch sử, luật so sánh cho đến thực tiễn xét xử và định hướng lập pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, được hình thành từ cơ sở hạ tầng kinh tế và phản ánh các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của các quy định về tài sản của vợ chồng qua các giai đoạn lịch sử Việt Nam (thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2000).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các khái niệm, quy định pháp luật thực định (Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Luật Đất đai) và tổng hợp thành các luận điểm khoa học về quyền, nghĩa vụ và chế độ sở hữu của vợ chồng.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật hiện hành với các văn bản pháp luật thời kỳ trước của Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia (Bộ luật Dân sự Pháp, Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Luật Hôn nhân Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1980, Luật Gia đình Cuba, Luật Gia đình Bulgaria) nhằm tìm ra các điểm tương đồng, khác biệt và đặc thù pháp lý.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát, thu thập và phân tích dữ liệu, báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình của ngành Tòa án nhân dân nhằm đánh giá mức độ tương thích giữa luật thực định và thực tế đời sống.
Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm: Hiến pháp năm 1992; các văn bản luật thực định của Việt Nam; các bộ cổ luật (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ); các văn bản pháp luật thời kỳ Pháp thuộc (Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936, Dân luật Giản yếu Nam Kỳ 1883, Sắc luật 15/64, Bộ luật Dân sự Sài Gòn 1972); văn bản pháp luật nước ngoài; các tài liệu giải đáp của Ủy ban Tư vấn Án lệ Bắc Việt (1927-1930); và các báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm 3 chương với 8 mục chuyên sâu:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng
Chương 1 xây dựng hệ thống lý luận nền tảng cho toàn bộ luận án, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại chế độ tài sản và lịch sử lập pháp.
1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa:
- Khái niệm: Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng. Bản chất của chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng phát sinh trên cơ sở quan hệ hôn nhân hợp pháp.
- Đặc điểm: (1) Chủ thể của quan hệ sở hữu phải là vợ chồng có hôn nhân hợp pháp và tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định; (2) Mục đích điều chỉnh nhằm bảo đảm quyền lợi chung của gia đình; tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất; (3) Căn cứ xác lập và chấm dứt gắn liền với sự kiện phát sinh và chấm dứt thời kỳ hôn nhân; (4) Quyền năng định đoạt của chủ thể có tính đặc thù (áp dụng suy đoán có sự thỏa thuận đương nhiên đối với các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu; quyền định đoạt tài sản riêng bị hạn chế nếu tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình).
- Vai trò và ý nghĩa: Điều chỉnh quan hệ tài sản nội bộ giữa vợ và chồng; tạo cơ sở vật chất bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân trong gia đình; điều tiết và bảo đảm an toàn pháp lý trong giao lưu dân sự, thương mại khi vợ hoặc chồng tham gia giao dịch với người thứ ba (như quy định tại Điều 25 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch thiết yếu; Điều 220 Bộ luật Dân sự Pháp; Điều 761 Bộ luật Dân sự Nhật Bản).
2. Nội dung các loại chế độ tài sản của vợ chồng:
Luận án phân loại và phân tích hai nhóm chế độ tài sản chính trong khoa học pháp lý quốc tế:
| Loại chế độ tài sản |
Cơ chế xác lập |
Đặc điểm cấu trúc tài sản |
Phạm vi áp dụng điển hình |
| Chế độ tài sản ước định |
Thỏa thuận bằng hôn ước (hợp đồng) trước khi kết hôn |
Do vợ chồng thỏa thuận (chọn cộng đồng hoặc phân sản); mang tính bất di bất dịch, chỉ sửa đổi khi có sự cho phép của Tòa án hoặc theo thủ tục luật định |
Pháp luật tư sản phương Tây (BLDS Pháp Điều 1387, 1397; BLDS Thái Lan Điều 1465; BLDS Nhật Bản Điều 758) |
| Chế độ cộng đồng toàn sản (Pháp định) |
Theo quy định của pháp luật |
Toàn bộ tài sản có trước và tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều nhập vào khối tài sản chung |
Cổ luật Việt Nam, DLBK 1931, DLTK 1936, Luật HN&GĐ Việt Nam 1959 |
| Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản (Pháp định) |
Theo quy định của pháp luật |
Tài sản chung gồm: toàn bộ động sản có trước kết hôn + động sản/bất động sản tạo ra trong hôn nhân + hoa lợi, lợi tức. Bất động sản có trước kết hôn hoặc thừa kế riêng là tài sản riêng |
BLDS Pháp 1804 (giai đoạn trước 1965), Sắc luật 15/64 và BLDS Sài Gòn 1972 |
| Chế độ cộng đồng tạo sản (Pháp định) |
Theo quy định của pháp luật |
Tài sản chung chỉ gồm tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và hoa lợi, lợi tức. Tài sản có trước kết hôn hoặc được tặng cho/thừa kế riêng là tài sản riêng |
Luật HN&GĐ Việt Nam 1986, 2000; Pháp luật Trung Quốc 1980, Nhật Bản, Cuba, Bulgaria, Pháp (từ 1965) |
| Chế độ phân sản (biệt sản) |
Thỏa thuận hoặc quy định pháp luật |
Không tồn tại khối tài sản chung; tài sản của bên nào thuộc quyền sở hữu, quản lý riêng của bên đó; mỗi bên đóng góp vào chi phí chung |
Cổ luật La Mã, Anh (trước 1857), Ý; biến thể có chế độ của hồi môn |
3. Khái quát chế độ tài sản của vợ chồng trong lịch sử pháp luật Việt Nam:
- Cổ luật Việt Nam (trước năm 1885): Quốc triều hình luật (thời Lê) và Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản pháp định dựa trên quan niệm "cha mẹ làm việc để nuôi con". Quốc triều hình luật chia điền sản gia đình thành ba loại: Phu tông điền sản (thừa kế từ nhà chồng), Thê điền sản (thừa kế từ nhà vợ), và Tần tảo điền sản (do vợ chồng tạo lập trong hôn nhân). Tất cả tài sản đặt dưới sự quản lý của người chồng, nhưng đối với điền sản, các văn tự chuyển dịch đều cần sự đồng thuận và chữ ký của cả hai vợ chồng.
- Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945): Tồn tại ba hệ thống pháp luật khác nhau ở ba miền:
- Bắc Kỳ (DLBK 1931) và Trung Kỳ (DLTK 1936): Quy định cả chế độ ước định và chế độ pháp định (cộng đồng toàn sản theo Điều 106, 107 DLBK và Điều 105 DLTK). Duy trì chế độ đa thê (chính thất và thứ thất).
- Nam Kỳ (DLGYNK 1883): Không quy định rõ về chế độ tài sản, dẫn đến các trường phái án lệ trái ngược nhau. Án lệ thời kỳ sau quy định người chồng là chủ sở hữu duy nhất tài sản gia đình, người vợ chỉ có tài sản riêng trong phạm vi hạn chế (đồ tư trang, tài sản gia đình tặng cho/thừa kế riêng, bất động sản đăng ký tên riêng trong sổ địa bộ).
Chương 2: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Chương 2 tập trung mổ xẻ nội dung chi tiết của luật thực định về tài sản chung và tài sản riêng:
- Tài sản chung của vợ chồng: Phân tích căn cứ xác lập theo Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Làm rõ khái niệm "thời kỳ hôn nhân" là mốc thời gian chung để xác định tài sản chung. Luận án phân tích việc áp dụng chế độ tài sản trong các trường hợp đặc thù: khi một bên bị tuyên bố mất tích; khi một bên bị tuyên bố đã chết trở về; trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và khôi phục chế độ tài sản chung (Điều 29, 30); và việc xác lập tài sản đối với quan hệ "hôn nhân thực tế".
- Tài sản riêng của vợ, chồng: Phân tích căn cứ xác lập tài sản riêng theo Điều 32, quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng theo Điều 33, và cơ chế sáp nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
- Nghĩa vụ tài sản: Luận giải ranh giới giữa nghĩa vụ chung (các khoản nợ phát sinh vì nhu cầu thiết yếu của gia đình, nghĩa vụ liên đới theo Điều 25) và nghĩa vụ riêng của từng cá nhân vợ hoặc chồng.
- Bản chất sở hữu: Phân biệt rõ sự khác biệt giữa hình thức sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng với hình thức sở hữu chung theo phần trong luật dân sự.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng
Chương 3 kết hợp khảo sát thực tiễn tư pháp và đề xuất các giải pháp lập pháp:
- 3.1. Chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tiễn xét xử: Đánh giá số liệu và các bản án thực tế của Tòa án về tranh chấp phân chia tài sản khi ly hôn (Điều 95), chia tài sản khi một bên chết trước (Điều 31), việc xác định công sức đóng góp của mỗi bên, giải quyết quyền sử dụng đất và nhà ở, cùng những khó khăn trong việc chứng minh nguồn gốc tài sản chung - tài sản riêng.
- 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng: Nêu các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, bổ sung các quy định hướng dẫn chi tiết về nghĩa vụ liên đới, nguyên tắc chia tài sản bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con chưa thành niên, và cơ chế đăng ký quyền sở hữu/quyền sử dụng tài sản chung của vợ chồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Xây dựng khái niệm khoa học hoàn chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng trong khoa học luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
- Luận giải cơ sở khách quan của việc Nhà nước quy định chế độ tài sản của vợ chồng xuất phát từ tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Làm rõ bản chất pháp lý của hình thức sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, chỉ ra sự khác biệt bản chất so với sở hữu chung theo phần trong luật dân sự tổng quát.
- Luận giải nguyên nhân tại sao từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu, pháp luật Việt Nam không quy định chế độ tài sản ước định (dựa trên hôn ước thỏa thuận) và không quy định chế định ly thân.
- Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp:
- Chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn và chưa cụ thể trong các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 liên quan đến việc định đoạt tài sản chung có giá trị lớn, phân định nghĩa vụ nợ chung - nợ riêng, chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
- Đưa ra hệ thống các kiến nghị khoa học nhằm phục vụ công tác pháp điển hóa, sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt phạm vi và dữ liệu, luận án tập trung chủ yếu vào khuôn khổ luật thực định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cùng thực tiễn tư pháp ở giai đoạn đầu áp dụng đạo luật này. Các vấn đề pháp lý phức tạp mới phát sinh từ sự phát triển sâu rộng của thị trường tài chính, chứng khoán, doanh nghiệp tư nhân và các giao dịch tài sản xuyên biên giới trong bối cảnh hội nhập quốc tế là những nội dung nằm ngoài phạm vi khảo sát trọng tâm của công trình và đòi hỏi các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị ứng dụng cụ thể:
- Đối với công tác giảng dạy và nghiên cứu: Là tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình.
- Đối với cơ quan xây dựng pháp luật: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về chế định tài sản trong Luật Hôn nhân và Gia đình và Bộ luật Dân sự.
- Đối với cơ quan áp dụng pháp luật: Cung cấp cơ sở lý luận và tiêu chí pháp lý hỗ trợ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên và Luật sư trong việc giải quyết các tranh chấp, phân chia tài sản và thi hành án dân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng được luận án xác định như thế nào?
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng. Thực chất, đây là chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng dựa trên quan hệ hôn nhân hợp pháp.
2. Quốc triều hình luật (thời Lê) quy định khối điền sản của vợ chồng gồm những loại nào?
Quốc triều hình luật quy định khối điền sản của vợ chồng gồm 3 loại:
- Phu tông điền sản: Tài sản của người chồng được thừa kế từ gia đình dòng họ nhà chồng;
- Thê điền sản: Tài sản của người vợ được thừa kế từ gia đình nhà vợ;
- Tần tảo điền sản: Tài sản do công sức lao động của hai vợ chồng tạo lập nên trong thời kỳ hôn nhân.
3. Tại sao Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 và năm 2000 lựa chọn chế độ cộng đồng tạo sản?
Luật pháp Việt Nam lựa chọn chế độ cộng đồng tạo sản vì chế độ này phù hợp với nền kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính cộng đồng vật chất của gia đình truyền thống (toàn bộ của cải do vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung), vừa tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản riêng của mỗi bên (tài sản có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân).
4. Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Dân luật Trung Kỳ năm 1936 quy định về chế độ tài sản ước định ra sao?
Hai bộ luật này cho phép vợ chồng lập tư ước (hôn khế) về tài sản trước khi kết hôn, miễn là không trái phong tục và không trái với quyền gia trưởng của người chồng. Tuy nhiên, tư ước này có tính "bất di bất dịch", tức là một khi đã kết hôn thì không được phép sửa đổi. Nếu không lập tư ước, luật áp dụng chế độ pháp định là chế độ hợp nhất tài sản (cộng đồng toàn sản).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Cừ là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về chế định tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam. Bằng việc kết hợp giữa phương pháp luận Mác-xít, phân tích luật thực định, đối sánh lịch sử và luật học so sánh, luận án đã làm rõ bản chất của chế độ cộng đồng tạo sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Các luận điểm lý luận và đề xuất sửa đổi trong luận án cung cấp cơ sở khoa học cho công tác lập pháp cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp.