Mở đầu: Đề cập tới các nội dung trong yêu cầu phát hành thư tín dụng và việc phát hành thư tín dụng (từ điểm số 1 đến điểm số 5). Phần 2 - Những nguyên tắc chung: Quy định nguyên tắc chung trong việc lập chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng (từ điểm số 6 đến điểm số 42). Phần 3 - Các quy định về một số loại chứng từ cơ bản được sử dụng trong thư tín dụng: Tập trung vào những quy tắc cơ bản khi tạo lập chứng từ như: Hối phiếu, hóa đơn thương mại; Chứng từ vận tải; Chứng nhận bảo hiểm; Chứng nhận xuất xứ (từ điểm số 43 đến điểm số 85).1 là một bản phụ trương của UCP 600, gồm 12 quy tắc, tập trung chủ yếu vào những vấn đề tác nghiệp của ngân hàng khi sử dụng các chứng từ điện tử như về cách thức áp dụng, phạm vi điều chỉnh, mối quan hệ giữa eUCP và UCP, cách thức xuất trình và kiểm tra chứng từ điện tử… Một thư tín dụng có dẫn chiếu đến việc áp dụng phiên bản xuất trình chứng từ điện tử eUCP thì đương nhiên UCP sẽ được áp dụng song không đúng với điều ngược lại. Bộ ba tập quán UCP 600, eUCP 1.1, ISBP 681 là những tập quán quốc tế thống nhất và đang được các ngân hàng, doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng chủ yếu trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trên phạm vi toàn thế giới, tuy đây không phải là những tập quán duy nhất được sử dụng trong tín dụng chứng từ.
Tính chất pháp lý đặc trưng nhất của UCP là tính tùy ý trong áp dụng, thể hiện ở các điểm: - Chỉ khi trong L/C có dẫn chiếu áp dụng UCP thì nó mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia. - Các bên có thể thỏa thuận không thực hiện hoặc thực hiện khác đi một hoặc một số điều khoản quy định trong UCP hoặc bổ sung trong L/C 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những điều khoản UCP không đề cập. Do nội dung chủ yếu xoay quanh thao tác nghiệp vụ của ngân hàng và các bên trong một phạm vi hẹp nên bộ quy tắc UCP không đủ để điều chỉnh toàn bộ các quan hệ phát sinh trong phương thức tín dụng chứng từ. Để có cơ sở pháp lý cho sự vận hành của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vẫn cần đến một hệ thống các quy phạm quốc gia bổ sung cho quy định tại UCP.
Vấn đề xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia về thanh toán tín dụng chứng từ sẽ được đề cập sâu hơn tại các phần sau của luận văn này. Pháp luật quốc gia 1. Vai trò của pháp luật quốc gia đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ Nếu như UCP là tập quán được áp dụng toàn cầu thì luật quốc gia chỉ có giá trị trong phạm vi một nước. Tuy phạm vi điều chỉnh hẹp nhưng vai trò của luật quốc gia đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ là không thể phủ nhận được.
Các giao dịch trong thanh toán bằng L/C không chỉ là công cụ thanh toán quốc tế mà còn là giao dịch trong nước xét về mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người mua và giữa ngân hàng thông báo với người bán và chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia. Trên khía cạnh nghiệp vụ, thanh toán bằng tín dụng chứng từ là một dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp cho các doanh nghiệp, do đó hoạt động này phải tuân theo quy định về quản lý ngoại hối, điều kiện đối với chủ thể được phép giao dịch, những hành vi bị cấm… được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của quốc gia mà tại đó hoạt động thanh toán diễn ra. Ngoài ra, thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ gắn bó mật thiết với các nghiệp vụ kinh tế khác như mua bán hàng hóa, vận tải, bảo hiểm… đòi hỏi phải vận dụng đến nhiều luật lệ, tập quán đặc thù của các nghiệp vụ này ở hai hay nhiều nước khác nhau khi giải quyết các tranh chấp và do vậy thường nảy sinh sự xung đột giữa các nguồn luật. Khi đó việc lựa chọn luật để áp dụng được thực hiện theo các nguyên tắc về xung đột pháp luật quy định tại các hệ thống pháp luật 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc gia, và những nguyên tắc này có sự khác nhau tùy theo từng nước.
Như vậy, cùng với các thông lệ quốc tế, pháp luật quốc gia là một nguồn quan trọng để điều chỉnh các hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Các quy định của pháp luật Việt Nam về thanh toán tín dụng chứng từ Với tư cách là một dịch vụ thanh toán thường được sử dụng trong thương mại quốc tế, thanh toán bằng tín dụng chứng từ chịu sự điều chỉnh của các quy định thuộc quản lý ngoại hối, thanh toán và thanh toán quốc tế, cụ thể: - Luật các tổ chức tín dụng 2010 - Pháp lệnh Ngoại hối 2005 - Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 16/07/2009 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại - Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán - Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng - Quyết định số 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08/10/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định thủ tục thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán - Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 về ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán - Quyết định 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/08/2003 về việc ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng. - Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/05/2001 về việc ban hành Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm (sửa đổi, bổ sung ngày 26/09/2001) Cho đến nay, mới chỉ có bốn văn bản pháp luật là Nghị định số 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 64/2001/NĐ-CP; Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN, Quyết định 1092/2002/QĐ-NHNN; Quyết định 711/2001/QĐ-NHNN, Việt Nam có các quy định trực tiếp về thanh toán bằng tín dụng chứng từ song mới chỉ đề cập tới thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại ở những khía cạnh hết sức sơ khai. Khái niệm thư tín dụng được đưa ra tại Điều 16 Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2011: Là một văn bản cam kết có điều kiện được ngân hàng mở theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó ngân hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng) để: - Trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng; hoặc - Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng [12].
Về cơ bản, khái niệm này có sự tương thích với khái niệm của UCP về thanh toán tín dụng chứng từ. Thủ tục mở thư tín dụng và thủ tục thanh toán thư tín dụng cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quy trình được quy định chủ yếu trong Quyết định 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08/10/2002. Thủ tục mở thư tín dụng được quy định tại Điều 7: Khi có nhu cầu thanh toán bằng thư tín dụng, người trả tiền lập giấy mở thư tín dụng nộp vào ngân hàng phục vụ mình. Mẫu giấy mở thư tín dụng, số liên lập giấy mở thư tín dụng, phương thức giao nhận, xử lý giấy mở thư tín dụng do ngân hàng phục vụ người trả tiền quy định nhưng phải đảm bảo phù hợp với các quy định về 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập, kiểm soát, xử lý chứng từ kế toán ngân hàng, tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành [13].
Điều 7 quy định về nghĩa vụ của ngân hàng phát hành như sau: Khi nhận được giấy xin mở thư tín dụng của khách hàng, ngân hàng phục vụ người trả tiền xử lý: Kiểm tra giấy thủ tục lập giấy xin mở tín dụng, đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ. Ký tên và đóng dấu ngân hàng mình lên 2 liên đầu giấy mở thư tín dụng. Ghi ký hiệu mật lên các liên giấy mở thư tín dụng [13]. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sau khi nhận được giấy mở thư tín dụng có nghĩa vụ "tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của giấy mở thư tín dụng (…) sau đó ghi ngày nhận, ký tên, đóng dấu đơn vị trên các liên giấy mở thư tín dụng và gửi 1 liên giấy mở thư tín dụng cho người thụ hưởng để làm căn cứ giao hàng, còn 1 liên lưu lại và mở sổ theo dõi giấy mở thư tín dụng đến" [13].
Về nghĩa vụ đối với người thụ hưởng, Điều 7 quy định: Sau khi nhận giấy mở thư tín dụng của người trả tiền do ngân hàng phục vụ mình gửi đến, người thụ hưởng phải đối chiếu với hợp đồng hay đơn đặt hàng, kiểm soát giấy ủy nhiệm nhận hàng, giấy chứng minh nhân dân của người nhận hàng nếu đúng thì giao hàng và yêu cầu người nhận hàng ký vào hóa đơn hay chứng từ giao hàng [13]. Việc yêu cầu người nhận hàng ký vào hóa đơn hay chứng từ giao hàng đã trở nên lỗi thời với thực tiễn thanh toán bằng chứng từ, bởi lẽ việc giao nhận hàng hóa không diễn ra trực tiếp giữa người mua và người bán mà thông qua người trung gian là các hãng vận tải và thông thường người mua cũng không chỉ định đích danh một hãng vận tải mà người bán buộc phải sử dụng. Nói cách khác, người mua chỉ có nghĩa vụ chứng minh đã giao hàng lên 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương tiện vận tải bất kỳ có đích đến là cảng/sân bay được thư tín dụng chỉ ra. Quy định tại Điều 7 về nghĩa vụ của ngân hàng phục vụ người trả tiền trong thanh toán thư tín dụng cũng hết sức đơn giản, chỉ đề cập đến những thao tác cần thực hiện của ngân hàng trong trường hợp không có sai sót trong chứng từ.