Tổng quan luận án
Công trình "Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải trực tuyến" được Hà Công Anh Bảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Thúy Nga và PGS. TS. Tăng Văn Nghĩa, bảo vệ năm 2023 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 62 38 01 07).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ ra rằng hoạt động thương mại ngày càng phát triển với nhiều hình thức phức tạp, dẫn đến số lượng và giá trị tranh chấp thương mại không ngừng gia tăng. Cùng với việc internet trở thành thị trường không biên giới, hoạt động thương mại dịch chuyển mạnh mẽ sang môi trường số, đòi hỏi sự xuất hiện của các phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online Dispute Resolution - ODR), đặc biệt là các phương thức phi tài phán như thương lượng, trung gian và hòa giải. Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (Alternative Dispute Resolution - ADR) dựa trên sự tự nguyện, bảo mật và tính trung gian của hòa giải viên. Tuy nhiên, hòa giải trực tuyến (HGTT) không chỉ là sự kết hợp cơ học giữa hòa giải truyền thống và công nghệ, mà tạo ra sự cộng hưởng làm thay đổi nhiều vấn đề cốt lõi: xuất hiện bên thứ ba ảo (chương trình máy tính đóng vai trò hòa giải viên), thay đổi trọng tâm từ tiếp cận công lý sang yếu tố công nghệ, đặt ra yêu cầu xác thực bằng chứng điện tử để phòng ngừa rủi ro an ninh mạng, cũng như thay đổi cơ chế thực thi quyết định hòa giải thành. Tại Việt Nam, mặc dù Luật Thương mại năm 2005 (Điều 312), Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tạo lập hành lang ban đầu, nhưng HGTT vẫn là vấn đề mới mẻ, còn nhiều khoảng trống về lý luận, thực tiễn áp dụng và quy chế pháp lý.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về HGTT, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng HGTT tại Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy áp dụng HGTT trong tương lai.
Để thực hiện mục đích trên, văn bản xác định 6 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp và giải quyết tranh chấp thương mại;
- Phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm, ưu điểm và nhược điểm của HGTT;
- Chỉ ra những yêu cầu, điều kiện pháp lý, kỹ thuật cùng thuận lợi, khó khăn trong thực hiện HGTT;
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về HGTT để rút ra bài học cho Việt Nam;
- Phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng HGTT tại Việt Nam;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường áp dụng HGTT tại Việt Nam.
Luận án xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu gắn với các giả thuyết:
- Câu hỏi 1: Sự khác biệt giữa HGTT và hòa giải truyền thống? Pháp luật về HGTT có nội dung như thế nào?
- Giả thuyết 1: HGTT là phương thức hòa giải đặc thù thông qua môi trường trực tuyến. Yếu tố trực tuyến tạo ra đặc điểm riêng về chủ thể tham gia, nguyên tắc bảo mật thông tin, chứng cứ, kỹ năng hòa giải viên, cũng như việc công nhận và cho thi hành quyết định hòa giải.
- Câu hỏi 2: Pháp luật và thực trạng về HGTT của Việt Nam có những thành công và bất cập như thế nào?
- Giả thuyết 2: HGTT phù hợp với các tranh chấp trong thương mại điện tử có giá trị nhỏ. Thương mại điện tử phát triển dựa trên lòng tin, và lòng tin cũng là cơ sở để phát triển HGTT khi các bên chấp nhận sự tiện lợi để đánh đổi rủi ro.
- Câu hỏi 3: Để phát triển HGTT tại Việt Nam trong thời gian tới, pháp luật và thực tiễn áp dụng HGTT ở Việt Nam cần được bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện như thế nào?
- Giả thuyết 3: Cần xây dựng một khung pháp luật phù hợp vừa bảo đảm tính đặc thù của Việt Nam, vừa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
- Giả thuyết 4: Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp bằng HGTT tại một số quốc gia được lựa chọn có thể tiếp thu nhằm sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về tranh chấp thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại bằng HGTT, các quy định pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước, cùng tình hình thực tiễn thực hiện HGTT.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Nghiên cứu HGTT dưới góc độ là phương thức giải quyết độc lập so với tòa án hoặc trọng tài (không đi sâu vào thủ tục hòa giải trong tố tụng). Luận án khu biệt vào 3 nội dung trọng tâm: (i) Nguyên tắc HGTT; (ii) Các loại HGTT; (iii) Các yếu tố bảo đảm thực hiện HGTT.
- Về không gian: Khảo sát kinh nghiệm tại Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ và liên hệ thực tiễn tại Việt Nam.
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2005 (thời điểm ban hành Luật Thương mại và Luật Giao dịch điện tử) đến năm 2023; các giải pháp và kiến nghị đề xuất cho giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Văn bản luận án đã tổng quan và phân loại hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành 6 nhóm chủ đề chính:
- Nhóm công trình về khái niệm và đặc điểm HGTT: Lawson, P tiếp cận HGTT qua phương tiện liên lạc điện tử; Ethan Katsh và Janet Rifkin xác định HGTT là tiến trình tự nguyện có sự trợ giúp của bên thứ ba trong môi trường ODR; Kohler và Schultz nhấn mạnh ODR vận hành khi ADR truyền thống không xử lý được; Chi-Chung Kao tập trung vào việc không cần gặp mặt trực tiếp; Dorcas Quek Anderson nghiên cứu khả năng Đạo luật Hòa giải Singapore áp dụng cho môi trường điện tử. Về đặc điểm, Phan Thị Thanh Thủy và Robert nhấn mạnh quyền tự quyết và tính không bắt buộc tuân thủ; Ayelet Sela và Alan luận giải về sự xuất hiện của công nghệ như "chủ thể thứ tư"; Rabinovich-Einy phân tích sự dung hòa giữa trách nhiệm giải trình và tính linh hoạt; E. Casey phân tích khía cạnh tiết kiệm chi phí di chuyển đối với tranh chấp giá trị nhỏ.
- Nhóm công trình về thỏa thuận và quy trình HGTT: Eddie Hurter phân tích thỏa thuận hòa giải bằng văn bản theo nghĩa rộng gắn với Luật giao dịch và liên lạc điện tử năm 2002 của Nam Phi; Asam Saud S Alsaiat phân tích giá trị pháp lý của thỏa thuận điện tử; Moore và Christopher W. cùng Rebecca Brennan xây dựng các bước quy trình từ tiếp nhận đơn, chỉ định hòa giải viên, trao đổi thông tin đến xác lập thỏa thuận; Debi Miller-Moore khảo sát hệ thống Webfile của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA) với các chức năng nộp đơn, tải tài liệu và quản lý hồ sơ; Eddie Hurter đánh giá hệ thống biểu mẫu trực tuyến của TrustEnforce.
- Nhóm công trình về các yếu tố tác động đến HGTT: Lai, Lin, & Kersten thử nghiệm tác động của sự quen thuộc ngôn ngữ đối với hành vi thuyết phục trong đàm phán điện tử; Johnson, & Cooper đánh giá ảnh hưởng của tin nhắn tức thời và liên lạc thoại đến mức độ nhượng bộ; Carneiro, Castillo, Novais và cộng sự phát triển nền tảng UMCourt ứng dụng trí tuệ nhân tạo (học máy, khai thác dữ liệu) để nhận biết trạng thái căng thẳng; Johnson, Cooper, & Chin nghiên cứu giải pháp kiểm soát sự tức giận; Van Kleef, & Dreu ứng dụng mô hình thông tin xã hội EASI để khảo sát tác động của cảm xúc và lời xin lỗi trong đàm phán qua máy tính.
- Nhóm công trình về tính hiệu quả của HGTT: Bollen, Verbeke, & Euwema đo lường hiệu quả hòa giải không đồng bộ qua số lượng thỏa thuận và nhận thức về công bằng; Tang đề xuất xây dựng tòa án điện tử cho tranh chấp thương mại B2B; Patrikios phân tích mô hình đồng quản lý xuyên quốc gia; Stephen Goldberg và Peter Adler nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ và sự tin cậy giữa hòa giải viên và các bên tranh chấp.
- Nhóm công trình về xây dựng khung pháp luật: Pablo Cortes đề xuất tiêu chuẩn ODR tại EU để bảo vệ người tiêu dùng và ý tưởng tòa án không gian mạng; Aura Esther Vilalta khuyến nghị ưu tiên áp dụng luật mẫu và hướng dẫn quốc tế hơn là xây dựng công ước quốc tế; OECD công bố các tài liệu xác định 4 vấn đề chủ chốt: niềm tin, định danh và chữ ký số, bảo mật dữ liệu, sự tuân thủ; tại Việt Nam, Phan Thị Thanh Thủy đề xuất ban hành nghị định về giải quyết tranh chấp trực tuyến; Trần Anh Huy đề xuất hoàn thiện quy định định danh điện tử và bổ sung quy định HGTT vào Nghị định số 22/2017/NĐ-CP.
- Nhóm công trình về giải pháp thúc đẩy HGTT: Julia Hornle và Suzanne Van Arsdale phân loại các cấp độ công nghệ ứng dụng trong ODR; Eddie Hurter và Aura Esther Vilalta phân tích vai trò của nhãn chứng thực số (dấu tin cậy/trustmark); Nguyễn Bích Thảo đề xuất cơ chế hỗ trợ tư pháp; Nguyễn Thị Minh kiến nghị mô hình tổ chức hòa giải thử nghiệm; Lê Hồng Hạnh đề xuất thành lập Hội đồng cố vấn về ADR.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết bao gồm:
- Thiếu một khái niệm bao quát và hệ thống tiêu chí phân loại thống nhất về HGTT;
- Chưa có công trình nào đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng HGTT tại Việt Nam một cách toàn diện;
- Chưa thiết lập được mô hình quy trình hòa giải trực tuyến chuẩn hóa và phân định rõ trách nhiệm của các bên trong môi trường số;
- Lý luận về pháp luật điều chỉnh HGTT tại Việt Nam chưa được nghiên cứu thấu đáo;
- Chưa xây dựng được hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa pháp lý, công nghệ, quản trị và kinh tế để thúc đẩy HGTT tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên 6 lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết kinh tế học pháp luật (Economic Analysis of Law): Do Richard Posner phát triển, kết hợp tư duy pháp lý với đánh giá tính hiệu quả kinh tế của quy tắc pháp lý, giúp các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu hóa chi phí giao dịch;
- Lý thuyết về quyền tự chủ của các bên (Party autonomy): Cơ sở xác lập quyền tự do lựa chọn hòa giải viên, quy trình thương lượng và tự nguyện chấp thuận quyết định giải quyết tranh chấp;
- Lý thuyết về kinh doanh có trách nhiệm (Responsible Business Conduct): Đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và chủ động thiết lập cơ chế giải quyết khiếu nại;
- Lý thuyết về đạo đức trong kinh doanh (Business Ethics): Khung chuẩn mực điều chỉnh hành vi của thương nhân và xác lập tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với hòa giải viên và nhà cung cấp nền tảng HGTT;
- Lý thuyết về tự do hóa thương mại (Trade Liberalization): Định hướng xóa bỏ rào cản hành chính, hạn chế sự can thiệp không cần thiết của nhà nước vào quyền tự định đoạt của các chủ thể kinh doanh;
- Lý thuyết về đàm phán (Negotiation Theory): Cung cấp các kỹ thuật tương tác, lắng nghe và nhượng bộ nhằm hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận thực chất.
Về phương pháp luận, tác giả quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp hệ thống hóa và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 1 để phân tích tình hình nghiên cứu và tại Chương 4 để xây dựng hệ thống giải pháp;
- Phương pháp phân tích: Sử dụng tại Chương 2 để làm rõ các khái niệm, nguyên tắc, mô hình HGTT và tại Chương 3 để mổ xẻ thực trạng pháp luật;
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy phạm pháp luật của Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Trung Quốc và các hướng dẫn của UNCITRAL với quy định pháp luật Việt Nam;
- Phương pháp phân tích tình huống: Phân tích các tranh chấp thương mại thực tế đã xử lý qua các hệ thống ODR quốc tế và Việt Nam;
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn sâu thông qua phiếu điều tra (thiết kế tại Phụ lục 1) đối với luật sư, hòa giải viên, trọng tài viên, cán bộ pháp chế và đại diện doanh nghiệp.
Nguồn dữ liệu của luận án gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Thương mại 1997, 2005; BLTTDS 2004, 2015; Luật Giao dịch điện tử 2005; Nghị định số 22/2017/NĐ-CP); văn bản quốc tế và khu vực (văn kiện UNCITRAL, OECD, Chỉ thị và Quy định của EU); dữ liệu vận hành từ các nền tảng thương mại điện tử và tổ chức ODR quốc tế (Cybersettle, SettlementOnline, ClickNsettle, OneAccord, Internet Neutral, SquareTrade, WebMediate, AAA Webfile, eBay, ICANN); cùng dữ liệu phỏng vấn chuyên gia.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 6 nhóm vấn đề lớn, chỉ ra sự phát triển của nghiên cứu ODR trên thế giới từ các khía cạnh công nghệ, tâm lý đàm phán đến khung thể chế. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế đã đưa ra nhiều mô hình quy trình nhưng khó áp dụng nguyên mẫu vào Việt Nam do sự khác biệt về văn hóa pháp lý và hạ tầng công nghệ. Tại Việt Nam, nghiên cứu về HGTT còn phân tán, chủ yếu lồng ghép trong các nghiên cứu tổng quát về thương mại điện tử hoặc trọng tài thương mại. Chương này xác lập khung 6 lý thuyết tiếp cận, công bố 3 câu hỏi nghiên cứu, 4 giả thuyết khoa học và dự kiến kết quả đạt được, tạo nền tảng cho việc triển khai toàn bộ luận án.
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG HÒA GIẢI TRỰC TUYẾN
Chương 2 làm rõ nền tảng lý luận về tranh chấp thương mại và HGTT. Tác giả phân tích khái niệm tranh chấp thương mại từ định nghĩa hẹp gắn với vi phạm hợp đồng tại Điều 238 Luật Thương mại năm 1997 đến định nghĩa rộng hơn dựa trên hoạt động thương mại sinh lợi tại Điều 3.1 Luật Thương mại năm 2005 (bao gồm tranh chấp hợp đồng và ngoài hợp đồng).
Lịch sử ODR và HGTT được truy nguyên từ đầu thập niên 1990 gắn với sự ra đời của World Wide Web (1989) và trình duyệt Netscape. Văn bản nêu mốc tháng 4 năm 1994 khi xuất hiện vụ việc thư rác thương mại đầu tiên tại Hoa Kỳ và Ủy ban Thương mại Liên bang nộp đơn kiện gian lận trực tuyến; năm 1996 xuất hiện các bài báo luật học đầu tiên về ODR; tổ chức NCAIR tài trợ hội nghị ODR đầu tiên, khởi động các dự án Thẩm phán ảo (Virtual Magistrate) và Văn phòng thanh tra trực tuyến (Online Ombudsman Office); năm 1997 Quỹ Hewlett tài trợ thành lập Trung tâm Công nghệ và GQTC tại Đại học Massachusetts (tổ chức diễn đàn Cyberweek); năm 1999 ICANN ban hành chính sách giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất; năm 2010 eBay xử lý hơn 60 triệu tranh chấp.
Về mặt chủ thể, ngoài hai bên tranh chấp và hòa giải viên, HGTT ghi nhận sự xuất hiện của "bên thứ tư" là công nghệ điện tử và "bên thứ năm" là nhà cung cấp hạ tầng mạng. Các tổ chức cung cấp dịch vụ được chia thành 3 nhóm: (1) Tổ chức ADR chuyên nghiệp; (2) Các website thương mại điện tử trung gian (như Amazon, eBay); (3) Website thương mại điện tử do thương nhân tự thiết lập.
Luận án phân loại 3 hình thức hòa giải trực tuyến cụ thể:
| Hình thức HGTT |
Đặc điểm vận hành kỹ thuật |
Nền tảng/Hệ thống dẫn chứng |
| Hòa giải tự động |
Vận hành hoàn toàn bằng phần mềm, thuật toán đấu thầu kín (blind bidding) qua các vòng (thường từ 3 vòng), hệ thống tự so sánh mức đề xuất thanh toán mà không có hòa giải viên con người |
Cybersettle, SettlementOnline, ClickNsettle |
| Hòa giải bán tự động |
Kết hợp giữa người điều phối (facilitator hoàn thành khóa đào tạo 30 giờ) với phần mềm máy tính (tối ưu hóa dữ liệu bí mật để đề xuất các gói giải pháp) |
OneAccord |
| Hòa giải truyền thống kết hợp công nghệ hỗ trợ |
Hòa giải viên là con người đóng vai trò chủ đạo, sử dụng e-mail, phòng họp trực tuyến bảo mật bằng mật khẩu, tin nhắn tức thời hoặc hội nghị truyền hình |
Internet Neutral, SquareTrade, WebMediate (WebSettlement) |
Hệ thống nguyên tắc của HGTT được chia thành hai nhóm:
- Nhóm nguyên tắc ADR truyền thống: Tự nguyện, trung lập, bình đẳng, tự định đoạt, chung thẩm.
- Nhóm nguyên tắc trực tuyến đặc thù: Đạo đức, tiếp cận, trao quyền, bảo mật, trung thực, hiểu biết, thông tin liên quan, tích hợp.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG HÒA GIẢI TRỰC TUYẾN
Chương 3 phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh HGTT qua các văn bản: Luật Thương mại năm 2005 (Điều 312), Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Chương XXXIII về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án). Tác giả nhận xét: Pháp luật hiện hành chủ yếu thiết kế cho hòa giải trực tiếp, thiếu vắng các quy định minh thị về HGTT. Các khoảng trống pháp lý bao gồm: Chưa công nhận tư cách pháp lý của hòa giải viên ảo; chưa có quy chuẩn kỹ thuật và quy trình xác thực chứng cứ điện tử trong phiên hòa giải; thiếu cơ chế bảo mật thông tin trực tuyến; quy định về địa điểm hòa giải và ký văn bản hòa giải thành chưa tương thích với môi trường mạng.
Về thực trạng thực tiễn, số lượng vụ việc giải quyết bằng HGTT tại Việt Nam còn rất hạn chế. Các trung tâm hòa giải thương mại thành lập sau Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chưa đầu tư xây dựng nền tảng ODR độc lập mà chủ yếu sử dụng các ứng dụng họp trực tuyến thông thường khi có yêu cầu. Trên các sàn thương mại điện tử lớn tại Việt Nam, quy trình xử lý khiếu nại chủ yếu mang tính chất thỏa thuận nội bộ giữa người mua và người bán do sàn can thiệp, chưa hình thành thủ tục hòa giải thương mại độc lập theo đúng quy chuẩn pháp lý. Năng lực hòa giải viên về kỹ năng đàm phán số còn thiếu hụt; cộng đồng doanh nghiệp vẫn duy trì thói quen sử dụng văn bản giấy và tâm lý e ngại rủi ro rò rỉ dữ liệu kinh doanh.
CHƯƠNG 4: KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TĂNG CƯỜNG ÁP DỤNG HÒA GIẢI TRỰC TUYẾN TẠI VIỆT NAM
Chương 4 khảo sát kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn của Liên minh Châu Âu (Quy định ODR số 524/2013 thiết lập Cổng thông tin ODR tập trung, Chỉ thị ADR 2013/11/EU), Hoa Kỳ (sự phát triển của ODR tư nhân hóa và hệ thống Webfile của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ), Trung Quốc và Ấn Độ. Từ đó, tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển hạ tầng ODR công và ban hành tiêu chuẩn cấp phép tổ chức cung cấp dịch vụ.
Luận án xác lập 4 phương hướng hoàn thiện pháp luật:
- Phải nằm trong tổng thể hoàn thiện pháp luật về thương mại;
- Phải phù hợp với hoàn thiện pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại (ADR);
- Đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0;
- Đáp ứng yêu cầu thực thi các cam kết quốc tế về thương mại (như EVFTA, CPTPP).
Hệ thống giải pháp được đề xuất bao gồm:
- Giải pháp xây dựng và hoàn thiện thể chế: Ban hành Nghị định riêng về giải quyết tranh chấp trực tuyến hoặc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 22/2017/NĐ-CP nhằm bổ sung chương riêng về HGTT; quy định rõ giá trị pháp lý của thỏa thuận hòa giải điện tử và văn bản hòa giải thành có chữ ký số; sửa đổi quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để áp dụng thủ tục rút gọn khi công nhận kết quả hòa giải trực tuyến thành;
- Giải pháp tăng cường áp dụng HGTT: Xây dựng Cổng thông tin ODR quốc gia; quy định tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ HGTT; chuẩn hóa chương trình đào tạo kỹ năng số cho hòa giải viên thương mại; khuyến khích các sàn thương mại điện tử tích hợp cổng kết nối với các trung tâm hòa giải độc lập; triển khai hệ thống "nhãn tin cậy" (trustmark) cho các website bán hàng cam kết sử dụng HGTT.
Kết quả và những đóng góp mới
Văn bản luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt khoa học:
- Hệ thống hóa và bổ sung toàn diện cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng HGTT, xác lập khái niệm, đặc điểm, vị trí của bên thứ tư (công nghệ) và bên thứ năm (hạ tầng mạng), cùng hệ thống nguyên tắc đặc thù trong môi trường số;
- Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn áp dụng HGTT tại Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, rút ra các bài học tham khảo phù hợp với điều kiện Việt Nam;
- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh HGTT, chỉ rõ các điểm bất cập, mâu thuẫn và khoảng trống lập pháp trong hệ thống pháp luật hiện hành;
- Xác định các điều kiện cần bảo đảm về mặt thể chế, công nghệ thông tin, năng lực hòa giải viên và nhận thức xã hội để phát triển hoạt động HGTT tại Việt Nam;
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp cụ thể xây dựng, hoàn thiện pháp luật về HGTT, cùng các kiến nghị thực thi chính sách nhằm gia tăng tỷ lệ áp dụng HGTT trong giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Về mặt giải pháp, luận án đề xuất ban hành khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ ODR, bổ sung tiêu chuẩn hành nghề hòa giải viên trực tuyến, đơn giản hóa thủ tục tư pháp công nhận biên bản hòa giải thành điện tử, và thiết lập cơ chế gắn nhãn chứng thực số trên các nền tảng thương mại điện tử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào HGTT với tư cách là phương thức giải quyết độc lập ngoài tố tụng, không đi sâu phân tích thủ tục hòa giải trực tuyến tích hợp trong tố tụng Tòa án hoặc Trọng tài. Dữ liệu thực nghiệm về các vụ việc HGTT thực tế tại Việt Nam còn hạn chế do phương thức này chưa được thương nhân sử dụng phổ biến tại thời điểm nghiên cứu; việc khảo sát thực tiễn dựa chủ yếu vào mẫu phỏng vấn chuyên gia và dữ liệu thứ cấp từ các vụ việc thương mại điện tử.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản:
- Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), hợp đồng thông minh (smart contracts) và công nghệ chuỗi khối (blockchain) trong tự động hóa việc xác lập và thi hành thỏa thuận hòa giải trực tuyến;
- Nghiên cứu cơ chế hòa giải trực tuyến gắn kết với Tòa án điện tử (court-annexed ODR) trong tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam;
- Nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại xuyên biên giới bằng HGTT trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự: Cung cấp khung lý thuyết toàn diện, hệ thống khái niệm, lịch sử phát triển ODR và phương pháp tiếp cận kinh tế học pháp luật đối với thiết chế hòa giải;
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Tòa án nhân dân tối cao): Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về giao dịch điện tử, giải quyết tranh chấp trực tuyến và sửa đổi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP;
- Các tổ chức hòa giải thương mại và hòa giải viên: Cung cấp tài liệu tham khảo về quy trình vận hành phiên hòa giải qua mạng, kỹ năng xử lý chứng cứ điện tử và quy tắc bảo mật thông tin;
- Doanh nghiệp, thương nhân kinh doanh thương mại điện tử và thương mại quốc tế: Tham khảo quy trình lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp chi phí thấp, nhanh chóng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong các giao dịch xuyên biên giới.
Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là hệ thống phân loại 3 hình thức HGTT (tự động, bán tự động, truyền thống có công nghệ hỗ trợ) tại Chương 2 và mẫu phiếu phỏng vấn sâu chuyên gia tại Phụ lục 1.
Câu hỏi thường gặp
1. "Bên thứ tư" và "bên thứ năm" trong hòa giải trực tuyến theo luận án được xác định là gì?
Theo Katsh và Alan được luận án trích dẫn, bên thứ tư trong HGTT là công nghệ điện tử (phần mềm, thuật toán, mạng internet và các thiết bị kết nối dữ liệu) đóng vai trò hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của hòa giải viên. Bên thứ năm là các nhà cung cấp hạ tầng mạng viễn thông bảo đảm đường truyền và kết nối kỹ thuật cho quy trình hòa giải.
2. Ba loại hình hòa giải trực tuyến được phân loại trong luận án gồm những loại nào?
Luận án phân loại 3 hình thức: (1) Hòa giải tự động (blind bidding, vận hành bằng phần mềm hoàn toàn, tiêu biểu là Cybersettle, SettlementOnline, ClickNsettle); (2) Hòa giải bán tự động (kết hợp người điều phối đã qua đào tạo 30 giờ và phần mềm tối ưu hóa giải pháp, tiêu biểu là OneAccord); (3) Hòa giải truyền thống kết hợp công nghệ hỗ trợ (hòa giải viên con người chủ trì qua e-mail, phòng chat, video conference, tiêu biểu là Internet Neutral, SquareTrade, WebMediate).
3. Bất cập lớn nhất của pháp luật Việt Nam hiện nay đối với việc thi hành kết quả HGTT là gì?
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Chương XXXIII) chỉ quy định thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án đối với các biên bản hòa giải bằng văn bản giấy truyền thống có chữ ký trực tiếp của các bên và hòa giải viên, chưa có quy định minh thị hướng dẫn việc công nhận và thi hành văn bản hòa giải thành lập dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử có chữ ký số.
4. Mô hình AAA Webfile của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ có những tính năng kỹ thuật nào được luận án dẫn chứng?
Hệ thống AAA Webfile cho phép người dùng thực hiện trực tuyến 7 chức năng: (1) Gửi khiếu nại mới; (2) Chọn hòa giải; (3) Liên lạc với các bên và người quản lý hồ sơ qua bảng tin; (4) Tải lên và tải xuống tài liệu; (5) Theo dõi các giao dịch tài chính; (6) Xem xét tiến độ vụ việc; (7) Xem các trường hợp bắt đầu bằng phương thức truyền thống.
5. Luận án đề xuất những giải pháp lập pháp cụ thể nào để phát triển HGTT tại Việt Nam?
Luận án kiến nghị ban hành một Nghị định riêng về giải quyết tranh chấp trực tuyến hoặc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại để bổ sung chương về HGTT; đồng thời sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm thiết lập thủ tục rút gọn công nhận kết quả hòa giải thành điện tử, và ban hành quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, định danh điện tử, bảo mật thông tin đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ HGTT.
Kết luận
Luận án "Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải trực tuyến" của tác giả Hà Công Anh Bảo là công trình nghiên cứu chuyên khảo về việc áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thay thế trên nền tảng kỹ thuật số tại Việt Nam. Tác phẩm đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, chỉ ra các đặc thù về chủ thể, nguyên tắc và các mô hình kỹ thuật của HGTT, đồng thời đánh giá toàn diện khoảng trống pháp lý của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2023. Dựa trên kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và một số quốc gia Châu Á, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp thể chế và kỹ thuật có tính ứng dụng để hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại trong bối cảnh phát triển kinh tế số. Công trình cung cấp tài liệu học thuật và căn cứ thực tiễn phục vụ hoạt động đào tạo luật học, nghiên cứu tư pháp và xây dựng chính sách thương mại điện tử tại Việt Nam.