Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất 1. Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất Trong cuộc sống của chúng ta hiện nay, để duy trì chúng ta phải sáng tạo, lao động, sản xuất và phối hợp với nhau để tạo ra của cải vật chất để nuôi sống chính bản thân và xã hội, đó có thể là những tài sản vật chất hoặc phi vật chất mà họ tạo ra cho xã hội. Đó chính là công sức và sức lao động của họ, họ có toàn quyền sử dụng và định đoạt đối với giá trị của cải vật chất đó, đó chính là tài sản mà cá nhân họ tạo ra.
Trong trường hợp họ không sử dụng hoặc muốn chuyển giao cho người khác thì có toàn bộ quyền chuyển lại và bên nhận chính là bên thừa hưởng quyền thừa kế, tức là kế tiếp họ để quản lý, sử dụng và sở hữu giá trị tài sản đó. Trường hợp tài sản đó không sử dụng hết, người sở hữu chết, mất đi thì tài sản đó có thể chuyển lại cho người còn sống thụ hưởng, chính vì vậy mà các giá trị và quan hệ về thừa kế sẽ xuất hiện và phát sinh, nên cần phải tuân thủ theo các quy định của thừa kế. Thừa kế chính là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ rất lâu, trong các xã hội trước đây cũng đã có, kể cả khi chưa có nhà nước và pháp luật thì thừa kế vẫn tồn tại một cách khách quan. Đó chính là việc một người này chuyển giao tài sản thừa kế cho một người khác, một các nhân hay tổ chức khác.
Như vậy, thừa kế theo cách hiểu trên nghĩa là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết hoặc từ chối sở hữu tài sản để giao cho người sống hoặc người khác sở hữu, bao hàm cả quản lý và sử dụng tài sản đó. Sự dịch chuyển này có thể là từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ tổ chức này sang tổ chức khác. 7 luan an Trong lịch sử hình thành nhà nước, do lực lượng sản xuất phát triển, của cải dư thừa, dẫn đến các quan hệ sản xuất cũng thay đổi, một bộ phận đứng ra chiếm dụng và hình thành nên sự phân cấp ra các giai tầng trong xã hội, khi các giai cấp phát triển, mẫu thuẫn về lợi ích đẩy lên cao, dẫn tới xung đột dẫn tới sự ra đời của nhà nước. Như vậy, nhà nước ra đời là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển của xã hội.
Khi có nhà nước thì pháp luật là yếu tố không thể thiếu và nó ra đời cùng với nhà nước để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị cũng như duy trì một trật tự xã hội nhất định đảm bảo cho tất cả các thành viên của xã hội thực hiện theo. Khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định thì pháp luật chính là công cụ và phương tiện để nhà nước quản lý toàn bộ các mặt đời sống của xã hội, khi đo các quan hệ trong đời sống đều được điều chỉnh bởi quan hệ pháp luật và được bảo đảm bằng pháp luật, cùng với nó thì các quan hệ về thừa kế cũng ra đời. Như vậy, có thể thấy rằng quyền sở hữu về tài sản, về tư liệu sản xuất của người dân đã có từ lâu đời nó phù hợp với chuẩn mực và nhu cầu của xã hội. Do đó, quyền sở hữu là quyền thiêng liêng, bởi giá trị mà họ phải bỏ sức lao động, mồ hôi, công sức của thì họ được sở hữu là chính đáng.
Khi họ không sử dụng hoặc họ chết đi thì giá trị tài sản đó họ có thể chuyển cho người khác, và khi đó nhà nước sẽ bảo đảm cho các hoạt động này được diễn ra một cách công bằng và khách quan nhất khi đó quan hệ thừa kế chính thức ra đời. Có thể thấy rằng quyền sở hữu chính là điều kiện, tiền để phát sinh ra quyền thừa kế và ngược lại, quyền thứa kế chính là kết quả của sở hữu mà ra. Nhà nước có vai trò đứng ra bảo vệ quyền sở hữu, bảo về quyền thừa kế vì như vậy chính là bảo vệ cơ sở phát sinh, phát triển và tồn tại của xã hội, duy trì trật tự xã hội ổn định. Chính vì vậy mà quyền thừa kế và quyền sở hữu có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, cả hai quyền đều là những phạm trù pháp lý, song song tồn tại trong cùng một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, có mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau.
Từ chỗ pháp luật quy định cho công dân có quyền sở hữu tài sản và cũng dựa vào đó pháp luật 8 luan an quy định cho họ các quyền năng trong quan hệ thừa kế. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một chế độ xã hội dựa trên nền tảng công hữu hóa tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai, rừng núi, sông, suối,…Nhà nước đại diện cho nhân dân, của dân và vì dân. Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp mà nhà nước cho phép chuyển dịch. Ở đây đối tượng của thừa kế là những tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, sinh hoạt như: hệ thống nhà xưởng, công ty, cổ phần và các máy móc, tài sản về quyền sử dụng đất, các giá trị gắn liền với đất, nông nghiệp, tiền, vàng, bạc,… Công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác, Nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa kế của công dân.
Nhà nước khuyến khích công dân tích cực lao độngsản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làm giàu cho cá nhân, gia đình, và đất nước. Trên cơ sở những phân tích nêu trên, đứng trên góc độ pháp lý có thể hiểu rằng thừa kế chính là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của nhà nước. Cụ thể các bản Hiến pháp của nhà nước Việt Nam đều đã thừa nhận và ghi rõ, khoản 1 và 2, Điều 32 Hiến pháp 2013 nêu rõ: Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vồn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.
Như vậy, pháp luật bảo vệ quyền thừa kế của con người xuất phát tư quan điểm coi gia đình là tế bào của xã hội và sự ổn định của từng thành viên trong gia đình. Căn cứ vào Hiến pháp, quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ, cụ thể là Luật Đất đai 2013 và Bộ Luật Dân sự 2015, Luật Tố tụng dân sự 2015và một số văn bản khác cũng đã quy địnhvềvấn đề này. Tại Điều 609 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định về quyền thừa kế như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của cá nhân mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. 9 luan an Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”.
Theo cách tiếp cận như trên thì thừa kế chính là một QHPL, theo đó có nhiều dạng thừa kế khác nhau như thừa kế tài sản, thừa kế cổ phần, thừa kế quyền sử dụng đất,… khi đề cập tới thừa kế quyền sử dụng đất chúng ta cũng cần nắm rõ thế nào là quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào? Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về quyền sử dụng đất, trên góc độ pháp lý, có ý kiến cho rằng: Quyền sử dụng đất là một QHPL về đất đai, khi xét tới QHPL về đất đai chúng ta cần chú ý tới các khía cạnh như sau: Thứ nhất, về chủ thể sở hữu với người sử dụng đất, đây chính là mối quan hệ giữa nhà nước với công dân thông qua các quyền sử dụng, chiếm hữu và định đoạt quyền sử dụng đất. Quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai là tuyệt đối còn của công dân đối với quyền sử dụng đất chỉ là tương đối và thuộc dạng phái sinh, phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai của chủ thể. Thứ hai, là quan hệ giữa người sử dụng đất với các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) liên quan đến việc cấp QSDĐ và giải quyết mối quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau. Trong QHPL này các bên tham gia vừa là chủ thể vừa là đối tượng trong những giao dịch, những quan hệ cụ thể trong quá trình sử dụng đất và các vấn đề liên quan.
Như vậy, qua các hiểu này thì QSDĐ ở đây chính là quyền sở hữu về đất đai của nhà nước với quyền sử dụng và khai thác các giá trị liên quan đến đất được cấp phép và sử dụng trong các giao dịch về đất đai như sử dụng, cho thuê và cấp phép, xác định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đồng thời còn cấp phép, trao quyền sử dụng đất cho các cá nhân, tổ chức và hộ gia đình sử dụng thông qua các hình thức cho thuê đất, cấp giấy phép quyền sử dụng đất lâu dài, hạn có mức 50 năm,…. Chính vì vậy mà các vấn đề liên quan được đảm bảo thực hiện thông qua các QHPL liên quan. 10 luan an Hai là, quyền sử đất chính là một chế định của luật đất đai.
Tức là nó bao gồm hệ thống các quy định, quy phạm pháp luật về đất đai do nhà nước, cơ quản quản lý có thẩm quyền ban hành nhằm thực hiện việc lý, sử dụng đất đai sao cho hợp lý, đáp ứng yêu cầu của QLNN, phù hợp với hệ thống luật pháp chung của nhà nước và các văn bản pháp lý quốc tế liên quan. Có thể là các văn bản quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, các thủ tục pháp lý, trình tự hành chính,… để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất.