Tổng quan nghiên cứu

Hàng năm, hệ thống Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam tiếp nhận và giải quyết hàng trăm nghìn vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Theo ước tính từ thực tiễn xét xử, có khoảng 20.000 đến 30.000 trường hợp Tòa án ra thông báo trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Quyền khởi kiện là quyền cơ bản trong tố tụng tư pháp nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân theo Hiến pháp năm 2013. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, đã bổ sung và hoàn thiện nhiều quy định quan trọng về căn cứ, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng từ năm 2016 đến nay cho thấy các quy định về trả lại đơn khởi kiện vẫn còn bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý và sự lúng túng giữa các cấp Tòa án. Đề tài tập trung làm rõ 04 nhóm vấn đề vướng mắc cốt lõi: việc xác định "sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật", xác định giá trị pháp lý của quyết định từ cơ quan có thẩm quyền khác, xử lý trường hợp đương sự không nộp tài liệu chứng cứ kèm theo đơn, và xác định điều kiện tiền tố tụng theo thỏa thuận của các bên. Mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng luận cứ khoa học, đánh giá toàn diện thực tiễn xét xử và đề xuất các giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đề tài có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao tỷ lệ thụ lý vụ án chính xác, giảm thiểu 15% đến 20% các vụ việc khiếu nại quyết định trả lại đơn và bảo đảm 100% quyền lợi hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết về quyền tiếp cận công lý và lý thuyết tố tụng tư pháp hiện đại, xác định Tòa án là trung tâm thực hiện quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người. Bên cạnh đó, đề tài áp dụng mô hình phân tích đối chiếu pháp luật so sánh giữa Việt Nam và 04 nền tài phán điển hình: Hoa Kỳ (với nguyên tắc tiếp nhận toàn bộ đơn kiện ban đầu), Nhật Bản (quy định bổ sung thiếu sót và bác đơn theo Điều 133 và Điều 137 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản), Liên bang Nga (quy định thời hạn 05 ngày xem xét thụ lý hoặc từ chối thụ lý theo các Điều 134, 135, 136) và Cộng hòa Pháp (hệ thống căn cứ trả lại đơn không giới hạn theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp và án lệ mở rộng).

Khung lý thuyết của luận văn vận hành dựa trên 04 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Khái niệm quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Điều 186 và Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Khái niệm năng lực hành vi tố tụng dân sự theo Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Nguyên tắc sự việc đã được giải quyết (Res Judicata) theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Khái niệm trả lại đơn khởi kiện với bản chất là hành vi tố tụng của Tòa án từ chối thụ lý vụ án khi có căn cứ do luật định, không làm phát sinh vụ án dân sự tại thời điểm ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp đa dạng các nguồn dữ liệu pháp lý và thực tiễn:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) và các án lệ có liên quan trực tiếp như Án lệ số 38/2020/AL.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ mẫu nghiên cứu gồm 65 bản án, quyết định giám đốc thẩm và thông báo trả lại đơn khởi kiện thực tế của các Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án địa phương trong giai đoạn 6 năm (từ tháng 7/2016 đến tháng 7/2022).

Cỡ mẫu 65 vụ án được xác định theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào 04 lĩnh vực phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp nhất: tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp di sản thừa kế, hôn nhân gia đình và tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phương pháp bình luận bản án (case-study) và luật học so sánh là nhằm mổ xẻ trực tiếp những xung đột giữa câu chữ pháp luật với cách hiểu của Thẩm phán trong thực tế xét xử, từ đó xác định chính xác nguyên nhân gốc rễ của những sai sót tiền thụ lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu và khảo sát thực tiễn xét xử giai đoạn 2016 - 2022 đã chỉ ra 04 phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, tồn tại sự nhầm lẫn nghiêm trọng trong việc xác định trường hợp "sự việc đã được giải quyết". Khoảng 35% các vụ việc bị trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết không chính xác xuất phát từ việc Tòa án đánh đồng giữa việc sự việc được ghi nhận trong phần nhận định của bản án cũ với việc Tòa án đã thực sự phân định quyền và nghĩa vụ của các bên. Điển hình như vụ việc tranh chấp không công nhận quan hệ cha con sau khi đã có quyết định thuận tình ly hôn ghi nhận con chung nhưng chưa từng giải quyết tranh chấp huyết thống.

Thứ hai, việc giải quyết các vụ án khác đương sự nhưng có cùng đối tượng tranh chấp từng có sự mâu thuẫn lớn giữa các cấp Tòa án. Trước khi có Án lệ số 38/2020/AL, nhiều Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy quyết định đình chỉ/trả lại đơn vì cho rằng khác nguyên đơn, bị đơn là quan hệ pháp luật mới. Án lệ số 38/2020/AL được ban hành ngày 13/8/2020 đã tạo ra bước ngoặt mang tính định hướng, giúp giảm hơn 40% nguy cơ ban hành các phán quyết mâu thuẫn về quyền sở hữu tài sản bằng cách khẳng định: Tòa án không thụ lý vụ án mới đòi tài sản khi tài sản đó đã được phân định bằng bản án có hiệu lực pháp luật.

Thứ ba, vướng mắc về hình thức văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ dùng từ "quyết định", dẫn đến việc Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lúng túng khi đương sự nộp các văn bản giải quyết tranh chấp đất đai thời kỳ trước dưới dạng "Thông báo" của Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện. Quyết định giám đốc thẩm số 59/2019/DS-GĐT của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã phải chấn chỉnh nhận thức, khẳng định văn bản dù mang tên "Thông báo" nhưng chứa đựng đầy đủ nội dung giải quyết hành chính cá biệt thì vẫn được coi là sự việc đã được giải quyết.

Thứ tư, thiếu cơ chế xử lý thống nhất đối với trường hợp người khởi kiện không nộp tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và trường hợp các bên có thỏa thuận bắt buộc thương lượng, hòa giải tiền tố tụng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các bất cập trên bắt nguồn từ kỹ thuật lập pháp tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn sử dụng nhiều thuật ngữ định tính nhưng chưa được Hội đồng Thẩm phán giải thích đầy đủ qua các văn bản hướng dẫn áp dụng. So sánh với quy định của Cộng hòa Pháp, Tòa án tối cao Pháp áp dụng Điều 122 theo hướng danh sách gợi ý mở, cho phép Thẩm phán từ chối đơn khởi kiện khi các bên vi phạm thỏa thuận hòa giải tiền tố tụng bắt buộc. Trong khi đó, hệ thống pháp luật Việt Nam tuân thủ nguyên tắc luật định nghiêm ngặt, dẫn đến việc Thẩm phán không có căn cứ rõ ràng để trả lại đơn đối với các trường hợp vi phạm cam kết tiền tố tụng hoặc không cung cấp tài liệu chứng minh ban đầu.

Thực trạng này có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cơ cấu nguyên nhân trả lại đơn khởi kiện:

  • Lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện theo luật định chiếm khoảng 45%.
  • Lý do sự việc đã được giải quyết bằng bản án/quyết định có hiệu lực chiếm khoảng 25%.
  • Lý do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án chiếm khoảng 15%.
  • Các lý do khác (không nộp biên lai tạm ứng án phí trong thời hạn 07 ngày, người khởi kiện không có quyền) chiếm 15%.

Bên cạnh đó, việc xây dựng bảng đối chiếu so sánh giữa quy định thực định và án lệ cho thấy Án lệ số 38/2020/AL đã lấp đầy khoảng trống pháp lý, chứng minh tính hiệu quả của phương pháp tiếp cận dựa trên "mục đích và đối tượng tranh chấp" thay vì chỉ dựa trên "tư cách đương sự".

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về trả lại đơn khởi kiện, nghiên cứu đưa ra 04 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, sửa đổi và bổ sung điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thông qua Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bổ sung quy định rõ: Sự việc chỉ được coi là đã giải quyết khi Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền đã ra phán quyết phân định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên về nội dung đó; đồng thời quy định việc xác định sự việc đã được giải quyết phải căn cứ vào đối tượng tranh chấp và mục đích mà yêu cầu khởi kiện hướng tới. Mục tiêu giảm 30% các vụ việc khiếu nại, kháng nghị liên quan đến việc xác định sự việc đã được giải quyết trong giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ hai, chuẩn hóa khái niệm "quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác" theo hướng coi trọng nội dung hơn hình thức văn bản. Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản giải đáp nghiệp vụ khẳng định mọi văn bản quản lý hành chính cá biệt (dù mang hình thức Thông báo, Kết luận hay Công văn) do cơ quan có thẩm quyền ban hành đúng thời kỳ lịch sử và đã giải quyết dứt điểm quyền sử dụng đất hoặc quyền tài sản đều là căn cứ để trả lại đơn khởi kiện. Thời gian hoàn thành trong vòng 12 tháng.

Thứ ba, bổ sung quy định cụ thể về hậu quả pháp lý khi người khởi kiện không nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Cần thiết lập quy trình: Thẩm phán ấn định thời hạn bổ sung từ 07 đến 15 ngày; nếu người khởi kiện không bổ sung mà không có lý do chính đáng thì Tòa án mới tiến hành trả lại đơn khởi kiện theo điểm h khoản 1 Điều 192.

Thứ tư, công nhận thỏa thuận thương lượng, hòa giải tiền tố tụng bắt buộc giữa các bên là một điều kiện khởi kiện. Cơ quan lập pháp cần bổ sung trường hợp này vào nhóm "chưa có đủ điều kiện khởi kiện", nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), phấn đấu nâng tỷ lệ hòa giải thành ngoài Tòa án lên trên 25% vào năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung toàn diện của công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cao cho 04 nhóm đối tượng chính:

Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án: Tài liệu cung cấp cẩm nang tra cứu và kỹ năng xử lý đơn khởi kiện tại giai đoạn tiền thụ lý, hướng dẫn vận dụng chính xác Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP và Án lệ số 38/2020/AL nhằm hạn chế tối đa nguy cơ trả lại đơn sai dẫn đến bị khiếu nại hoặc hủy quyết định.

Luật sư và Chuyên viên tư vấn pháp lý: Hỗ trợ xây dựng chiến lược tố tụng hiệu quả, kiểm tra đầy đủ các điều kiện khởi kiện tiền tố tụng, chuẩn bị hồ sơ chứng cứ hợp lệ và nắm vững quy trình khiếu nại, kiến nghị khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng căn cứ pháp luật trong 100% các tình huống thực tế.

Giảng viên, Học viên cao học và Nghiên cứu sinh ngành Luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuyên sâu, hệ thống hóa lý luận và thực tiễn xét xử phục vụ công tác giảng dạy học phần Luật Tố tụng dân sự Việt Nam và phát triển các công trình nghiên cứu so sánh luật học.

Cơ quan xây dựng pháp luật và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Cung cấp các luận cứ khoa học, số liệu thực tiễn và đề xuất lập pháp cụ thể phục vụ cho chương trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự và ban hành các nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trên phạm vi toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Khi nào Tòa án trả lại đơn khởi kiện với lý do sự việc đã được giải quyết? Tòa án trả lại đơn theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 khi yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, đã phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên về cùng đối tượng tranh chấp, trừ các trường hợp ngoại lệ như yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng hoặc đòi lại tài sản cho thuê, mượn.

Trường hợp vụ án khác đương sự nhưng cùng đối tượng tranh chấp thì có bị trả lại đơn không? Theo tinh thần của Án lệ số 38/2020/AL, nếu tài sản đã được phân chia hoặc công nhận quyền sở hữu bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, người khác khởi kiện đòi lại tài sản đó thì Tòa án không thụ lý vụ án mới mà hướng dẫn đương sự làm đơn đề nghị xem xét lại bản án cũ theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Thời hạn nộp biên lai tạm ứng án phí là bao lâu trước khi Tòa án trả lại đơn? Theo khoản 2 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án. Hết thời hạn 07 ngày mà không nộp và không thuộc trường hợp được miễn, giảm hoặc có sự kiện bất khả kháng thì Tòa án sẽ trả lại đơn.

Văn bản giải quyết tranh chấp đất đai hình thức Thông báo của Ủy ban nhân dân có là căn cứ trả lại đơn không? Theo Quyết định giám đốc thẩm số 59/2019/DS-GĐT của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, văn bản dù mang tên "Thông báo" nhưng được ban hành đúng thẩm quyền quản lý đất đai thời kỳ trước và chứa đựng nội dung giải quyết dứt điểm quyền sử dụng đất cá biệt thì vẫn được coi là quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền.

Người khởi kiện bị trả lại đơn có quyền nộp đơn khởi kiện lại hay không? Căn cứ khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, người khởi kiện hoàn toàn có quyền nộp lại đơn khởi kiện khi đã khắc phục được các điều kiện bị thiếu như: đã tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã đối với tranh chấp đất đai, bổ sung đúng địa chỉ của bị đơn hoặc thuộc trường hợp tranh chấp thừa kế đủ điều kiện theo luật mới.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và pháp lý về chế định trả lại đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam.
  • Phân tích và chỉ rõ 04 nhóm bất cập thực tiễn điển hình qua hệ thống 65 bản án, quyết định giám đốc thẩm và án lệ thực tế từ năm 2016 đến 2022.
  • Làm sáng tỏ các tiêu chí cốt lõi để xác định "sự việc đã được giải quyết" dựa trên đối tượng và mục đích của yêu cầu khởi kiện.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp khả thi gồm sửa đổi Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và ban hành Nghị quyết hướng dẫn mới trong giai đoạn 2024 - 2026.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho hoạt động xét xử, nghiên cứu khoa học và đào tạo cử nhân, thạc sĩ luật học.

Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết thỏa đáng các xung đột pháp lý tiền thụ lý và mở ra hướng đi quan trọng cho công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn 2024 - 2028. Quý độc giả, các chuyên gia pháp lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận trích dẫn, áp dụng các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn xét xử và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tố tụng dân sự.