Tổng quan nghiên cứu
Thừa kế và định đoạt tài sản là quyền nhân thân gắn liền với tài sản được ghi nhận trang trọng tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013 và Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, chế định di chúc chung của vợ chồng từng được ghi nhận trong Bộ luật Hồng Đức thế kỷ 15, Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Dân luật Trung Kỳ năm 1936, Thông tư số 81 năm 1981 của Tòa án nhân dân tối cao, 3 điều luật thuộc Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 666, 667, 671) và 3 điều luật thuộc Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 663, 664, 668). Tuy nhiên, khi Quốc hội thông qua Luật số 91/2015/QH13 (Bộ luật Dân sự năm 2015) có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, toàn bộ các điều khoản về di chúc chung của vợ chồng đã chính thức bị bãi bỏ.
Sự thay đổi lập pháp này đã tạo ra khoảng trống pháp lý đáng kể, gây lúng túng cho các cơ quan xét xử khi có tới khoảng 70% đến 80% tranh chấp thừa kế gia đình liên quan trực tiếp đến khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Trung Thị Quỳnh Anh thực hiện tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2020 đã tập trung giải quyết trực diện vấn đề cấp thiết này. Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao quát tiến trình lập pháp và thực tiễn xét xử tại hệ thống Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt khi làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chỉ rõ nguyên nhân bãi bỏ quy định và cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam với tỷ lệ chuẩn hóa dự kiến đạt trên 90% khi áp dụng vào thực tiễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng đồng bộ 3 hệ thống lý thuyết và mô hình pháp lý nền tảng:
- Lý thuyết về quyền tự định đoạt tài sản của chủ sở hữu: Quyền để lại di sản theo ý chí cá nhân được quy định từ Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2005 đến Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Lý thuyết về chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng: Dựa trên nguyên tắc sở hữu chung hợp nhất không phân chia phần quyền tại Điều 207 và Điều 210 Bộ luật Dân sự năm 2015, kết hợp với Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Mô hình so sánh luật học quốc tế: Đối chiếu quy định cấm lập di chúc chung tại Điều 968 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 cùng pháp luật của Nhật Bản, Thụy Sỹ, Thái Lan với hệ thống pháp luật công nhận di chúc chung như Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức.
Hệ thống khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu gồm 4 nội dung: Di chúc, Di chúc chung của vợ chồng, Tài sản chung hợp nhất, và Thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc khi một bên qua đời trước.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp chuyên ngành:
- Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Tác giả tiến hành khảo sát và tổng hợp 50 bản án, quyết định giám đốc thẩm tiêu biểu về tranh chấp thừa kế của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố từ năm 1995 đến năm 2020; đối chiếu 12 văn bản quy phạm pháp luật xuyên suốt từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đến Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu điển hình theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào 2 nhóm tranh chấp phổ biến: tranh chấp xác định di sản chung và tranh chấp khi một bên thay đổi ý chí di chúc.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, diễn giải pháp lý, so sánh luật học, quy nạp và diễn dịch logic.
- Lý do lựa chọn: Sự kết hợp này bảo đảm việc bóc tách toàn diện cả về mặt kỹ thuật lập pháp lẫn thực tiễn xét xử thực nghiệm, chứng minh tính bất cập khi xóa bỏ hoàn toàn chế định di chúc chung.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực chứng và đối chiếu quy phạm đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, di chúc chung của vợ chồng là nhu cầu xã hội có thực và bắt nguồn sâu xa từ đạo nghĩa truyền thống gia đình Việt Nam. Ước tính có hơn 75% các cặp vợ chồng mong muốn cùng thống nhất định đoạt khối tài sản tích lũy cả đời cho con cháu sau khi cả hai người qua đời.
Thứ hai, thực tiễn xét xử bộc lộ sự phức tạp cao khi giải quyết tranh chấp tài sản chung. Cụ thể, tại Bản án số 1333/2006/DSST ngày 18/12/2006 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, vụ tranh chấp căn nhà số 509bis Lý Thường Kiệt có diện tích 118,69m2 và căn nhà số 284-286 Tân Trang có diện tích 44m2 được lập di chúc chung ngày 20/05/1993 giữa 11 người con đã làm phát sinh xung đột về quyền sở hữu 1/2 giá trị nhà khi người chồng qua đời năm 1999.
Thứ ba, việc một bên thay đổi ý chí làm biến động hiệu lực di chúc chung. Bản án số 952/2006/DSPT ngày 07/11/2006 của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội giải quyết thửa đất số 65 diện tích 534m2 lập di chúc chung năm 1993; Tòa án đã trích công sức tôn tạo tương đương 6m2 trị giá 30 triệu đồng, phân chia 528m2 còn lại thành hai phần đều nhau mỗi bên 264m2 theo Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và chấp nhận cho người chồng hủy bỏ phần di chúc của mình theo Điều 664 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Thứ tư, việc Bộ luật Dân sự năm 2015 bãi bỏ chế định này khiến 100% tổ chức hành nghề công chứng từ chối công chứng văn bản di chúc chung, làm tăng thêm ít nhất 50% chi phí và thủ tục hành chính khi vợ chồng buộc phải lập 2 di chúc đơn phương riêng lẻ.
Thảo luận kết quả
Khi mô tả dữ liệu giải quyết án qua bảng đối chiếu giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015, bức tranh thực tế cho thấy sự thiếu hụt quy tắc xử lý khi một bên vợ hoặc chồng chết trước. Nhà làm luật bãi bỏ di chúc chung xuất phát từ quan điểm bảo vệ tuyệt đối ý chí tự do cá nhân và sự phức tạp trong phân chia di sản chung hợp nhất.
Tuy nhiên, đối chiếu với các công trình nghiên cứu chuyên sâu của PGS.TS. Đỗ Văn Đại năm 2016 trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp và tác giả Đinh Thùy Dung năm 2018 tại Học viện Khoa học Xã hội, việc bãi bỏ hoàn toàn thay vì hoàn thiện kỹ thuật lập pháp là một hạn chế lớn. Thực tiễn cho thấy di chúc chung vừa bảo toàn nguyên vẹn khối tài sản gia đình, vừa tránh sự phân tán quyền sử dụng đất, đặc biệt phù hợp với các hộ gia đình thuần nông hoặc kinh doanh cá thể tại Việt Nam.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và tháo gỡ điểm nghẽn thực tiễn, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị mang tính hành động cụ thể:
- Bổ sung quy định về Di chúc chung của vợ chồng vào Bộ luật Dân sự trong giai đoạn sửa đổi 2025-2027 do Quốc hội và Ủy ban Pháp luật chủ trì, thiết kế thành 1 mục độc lập gồm 4 điều khoản quy định rõ: định nghĩa, điều kiện hiệu lực, quyền sửa đổi/bổ sung/thay thế/hủy bỏ, và thời điểm phát sinh hiệu lực. Mục tiêu đạt 100% tính đồng bộ với Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong năm 2026 về việc giải quyết các tranh chấp di chúc chung được xác lập trước ngày 01/01/2017, quy định rõ nguyên tắc bảo lưu hiệu lực 50% phần di sản của người đã chết. Mục tiêu giảm ít nhất 35% tỷ lệ án bị hủy hoặc sửa do lỗi áp dụng pháp luật.
- Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ công chứng do Bộ Tư pháp ban hành trước quý 4/2026, hướng dẫn chi tiết phương thức lập biên bản phân định tài sản gắn liền với di chúc nhằm loại bỏ 95% nguy cơ vô hiệu do hình thức văn bản.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký di chúc và tài sản thừa kế kết nối định danh điện tử VNeID trong giai đoạn 2026-2028, cho phép tra cứu tức thời tình trạng di chúc chung nhằm ngăn chặn 100% tình trạng một bên tự ý tẩu tán hoặc lập di chúc riêng trái luật.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Đại biểu Quốc hội, cán bộ lập pháp và Viện Nghiên cứu Lập pháp: Sử dụng nguồn tài liệu làm cơ sở dữ liệu khoa học, tham khảo trực tiếp các đề xuất điều luật phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự.
- Thẩm phán, Kiểm sát viên và Hội thẩm nhân dân: Tiếp cận hệ thống phân tích từ 50 bản án thực tế để thống nhất phương pháp định giá, phân chia phần quyền tài sản và xác định thời hiệu thừa kế chính xác.
- Luật sư và Công chứng viên: Ứng dụng khung pháp lý và án lệ để tư vấn soạn thảo văn bản phân chia tài sản hôn nhân, hạn chế tối đa rủi ro tranh chấp tài sản cho khách hàng.
- Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên ngành Luật Dân sự: Sử dụng làm tài liệu học thuật chuyên khảo có hệ thống lý luận chặt chẽ, phục vụ nghiên cứu chuyên sâu về luật sở hữu và luật thừa kế.
Câu hỏi thường gặp
Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện hành có còn cho phép vợ chồng lập di chúc chung không?
Không. Kể từ ngày 01/01/2017 khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về di chúc chung tại các Điều 663 đến 668 đã bị bãi bỏ hoàn toàn. Các tổ chức công chứng hiện nay không tiếp nhận công chứng di chúc chung của vợ chồng mà hướng dẫn lập 2 bản di chúc cá nhân độc lập.
Di chúc chung của vợ chồng đã lập hợp pháp trước năm 2017 thì nay có còn giá trị không?
Có giá trị. Căn cứ theo nguyên tắc chuyển tiếp tại Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc chung được xác lập hợp pháp theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 trước ngày 01/01/2017 vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp luật khi mở thừa kế, bảo đảm sự ổn định của các giao dịch dân sự và tôn trọng ý chí của người đã mất.
Khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, người còn sống có quyền sửa đổi di chúc chung không?
Người còn sống chỉ có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ phần di chúc liên quan đến phần tài sản của mình (thường là 50% khối tài sản chung hợp nhất). Như tại Bản án số 952/2006/DSPT của TAND TP. Hà Nội, Tòa án chấp nhận cho người chồng định đoạt 264m2 đất thuộc phần mình trong tổng số 528m2 đất chung.
Tài sản riêng của vợ hoặc chồng có được đưa vào di chúc chung không?
Không. Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 217 Bộ luật Dân sự năm 2005, di chúc chung chỉ được lập để định đoạt khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của hai vợ chồng. Tài sản riêng của từng cá nhân phải được định đoạt bằng di chúc riêng biệt trừ khi hai bên có thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Giải pháp pháp lý an toàn nhất hiện nay để vợ chồng cùng định đoạt tài sản cho con cái là gì?
Hai vợ chồng nên lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thành tỷ lệ sở hữu cụ thể (50/50), sau đó mỗi bên lập một bản di chúc riêng có công chứng định đoạt phần tài sản của mình, bảo đảm 100% tính hợp pháp khi mở thừa kế.
Kết luận
- Đề tài khẳng định vị trí nền tảng của chế định thừa kế và tính nhân văn, phù hợp truyền thống đạo nghĩa của di chúc chung của vợ chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam.
- Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận qua 3 thời kỳ lập pháp (BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS 2015) và chỉ rõ hệ quả của khoảng trống pháp lý hiện hành.
- Khảo sát thực chứng 50 bản án thực tế tại Tòa án nhân dân các cấp, bóc tách nguyên nhân và bất cập khi bãi bỏ quy định di chúc chung.
- Đóng góp hệ thống 4 giải pháp lập pháp và tư pháp đồng bộ, có lộ trình rõ ràng hướng đến giai đoạn sửa đổi luật 2025-2027.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao cho công tác đào tạo, nghiên cứu lý luận và hoạt động thực hành nghề luật.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là bảo vệ thành công quan điểm cần thiết phải tái lập chế định di chúc chung của vợ chồng trong Bộ luật Dân sự sửa đổi thời gian tới. Các nhà nghiên cứu, cán bộ thực thi pháp luật và bạn đọc quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình để khai thác sâu hơn các dữ liệu án lệ và giải pháp lập pháp chi tiết.