CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VE DI CHÚC VÀ ĐIÊU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 1. Khái quát chung về thừa kế Có thé khẳng định từ cổ chí kim quan hệ thừa kế luôn tồn tại và có sự thay đôi dựa vào từng giai đoạn khác nhau của lịch sử. Sự thay đôi đó xuất phát từ nhận thức khác nhau về vai trò của di chúc và các quy định của pháp luật trong từng thời kỳ phát triển lịch sử pháp luật. Ngay từ những nhận thức đầu tiên, các nhà học giả phương Tây có quan niệm về pháp luật bao gồm có pháp luật tự nhiên và pháp luật thực định.
Pháp luật tự nhiên là những quy tắc tất yếu hình thành một cách tự nhiên trong đời sống của con người xuất phát từ bản chất của con người với tư cách là một bộ phận của giới tự nhiên, tương tự như việc con người đói thì ăn, khát thì uống, tìm kiếm thức ăn dé duy trì sự sống, khi chết dé lại tài sản và những người còn sống thừa hưởng thành quả đó của người đã chết,. thừa kế là một hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Nơi nào có sở hữu thì nơi đó có thừa kế, bởi lẽ "bất cứ nền sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong một phạm vi, một hình thái xã hội nhất định, nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó không không thể có một xã hội nào cả". Như vậy, "thừa kế và luôn tồn tại song song tôn tại và gắn bó chặt chẽ với nhau trong mọi hình thái kinh tế xã hội.
Trong đó, nếu sở hữu là cơ sở làm xuất hiện van đề thừa kế thì đến lượt mình, thừa kế lại là phương tiện dé duy trì và củng cố vấn đề sở hữu"”. Như vậy, quan hệ thừa kế đã tôn tại rất lâu, khi chưa có nhà nước và chưa có pháp luật với tư cách là chủ sở hữu, một người đã để lại tài sản của mình cho người khác sau khi người đó chết. Vào thời kỳ đó, quan hệ thừa kế là một quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng phong tục tập quán, thói quen xã hội. Với sự xuất hiện của nhà nước và các quy phạm pháp luật, quan hệ thừa kế được pháp luật điều chỉnh, đó là những quy tắc do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự xã hội, quan hệ ' C.
Ăng-ghen (1993), Toàn tập, Tập 2,Sdd, tr. 860 ? Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2013), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 8 thừa kế ké từ đó cũng là một phan quan trọng trong hệ thống pháp luật nói chung cũng như pháp luật dân sự nói riêng điều chỉnh. Một người trước khi chết đã có quyền lập di chúc dé định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản của mình cho người khác sau khi người đó chết (thừa kế theo di chúc), hoặc nếu người đó không lập di chúc những quy định pháp luật sẽ điều chỉnh để phân chia phần tài sản đó cho những người còn sống sao cho phù hợp với luân lý, trật tự xã hội (thừa kế theo pháp luật).
Khái niệm di chúc Theo Từ điển tiếng Việt, di chúc được hiểu là lời đặn lại trước khi chết những việc người sau cần làm và nên làm” hay "Jd văn bản chính thức ghi những ÿ muốn của một người, đặc biệt là xử lý những tài sản của mình sau khi chết". Từ đó có thé hiểu di chúc là sự thé hiện ý chí cudi cùng của một người trước khi chết muốn những người còn sống thực hiện ý nguyện cuối cùng của minh, đó có thé là những công việc mà người lập di chúc mong muốn những người còn sống làm sau khi người lập di chúc chết đi và đặc biệt là xử lý tài sản của người lập di chúc sau khi người đó chết. Theo thuật ngữ pháp lý, di chúc là hành vi pháp lý đơn phương, di chúc thé hiện ý chí của người lập di chúc nhằm làm phát sinh quyền hưởng di sản của người được chỉ định nhận di sản. Với tư cách là chủ sở hữu, một người trước khi chết có quyên thể hiện ý chí của mình dưới một hình thức pháp lý để định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản của mình cho những người khác sau khi người đó chết gọi là di chúc.
Di chúc là thuật ngữ đã ton tại rất lâu với nhiều tên gọi khác nhau như: chúc thư, chúc ngôn, ý nguyện,. Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm di chúc cũng đã được hình thành ngay trong bộ luật dân sự gốc, bộ luật La Mã. Tôn tại trong luật của người La Mã hai loại thừa kế: thừa kế theo di chúc ( Testato); thừa kế theo luật ( Intestato )°. Theo Ulpian - một luật gia La Mã nổi tiếng thì: "Di chúc là sự thể hiện ÿ chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết".
Như vậy, dưới thời La Mã đã tồn tại di chúc, và đó là phương tiện dé thé hiện ý chí của người lập di chúc và đi chúc đó có hiệu lực khi người lập di chúc chết. 3 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phé thông, Nxb Da Nẵng, tr. 254 * Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb Đà Nẵng, tr. 182 Ÿ Trích giáo trình Luật La Mã của PTS sử học Nguyễn Ngọc Đào xuất bản năm 1994 ° Trích dẫn theo bài việt Quyên thừa kê trong luật La Mã cô đại của T.S Nguyên Đình Huy đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý sô 04/2001 của Trường Đại học Luật thành phô Hồ Chí Minh.
Theo pháp luật Nhật Bản thì: “Người lập di chúc có thể định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản của mình miễn là di chúc đó không được trái với quy định của pháp luật” ”. Theo pháp luật dân sự của Cộng hòa liên bang Nga: “Tdi sản thừa kế có thể được chia bằng phương tiện là di chúc, đi chúc được tạo ra bởi một công dân có năng lực hành vi đây đủ, di chúc không thể tạo ra thông qua người đại diện, chỉ một người mới có thể lập di chúc, đi chúc là thỏa thuận một bên tạo ra quyên và nghĩa vụ cho người khác ké từ thời điểm mở thừa kế”. Theo Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp thì: "Di chúc là một chứng thư, theo đó người để lại di chúc định đoạt sau khi chết một phần hoặc toàn bộ tài sản cua mình, người đó có thể huy bo di chúc "”. Ở Việt Nam, từ rất lâu đã hình thành và tồn tại các quy định về di chúc hay còn gọi là chúc thư.
Cu thé đưới thời phong kiến, theo tài liệu còn lưu trữ được đến ngày nay, chế định thừa kế đã được quy định trong Bộ Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức) đưới triều đại Nhà Lê và Bộ Hoàng Việt Luật lệ (Bộ luật Gia Long) đưới triều đại Nhà Nguyễn. Trong Quốc triều Hình luật, mặc dù luật không xây dựng các quy định về thừa kế thành các phần, các chương nhưng qua nội dung các điều luật có thé thay van đề thừa kế được quy định từ Điều 374 đến Điều 400 và năm rải rác tại một số điều khác. Cụ thê trong chương Điền sản có những quy định về phân chia ruộng đất thừa kế và đã có sự xuất hiện của khái niệm chúc thư ( di chúc): “ Diéu 374. Quy định chia điền sản cho người thừa kế và các con.
Chia nhau điền sản không có chúc thư để lai.” Trong Hoàng Việt Luật lệ, vấn đề thừa kế được quy định tại Quyên 6 — Hộ luật. Tuy nhiên, theo như nhận xét của cô Giáo sư Vũ Văn Mẫu về Hoàng Việt Luật lệ thi". Bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê, không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn. Qua những điều khoản của bộ luật này, hình ảnh yêu dấu của dân tộc Việt Nam đã nhường chỗ cho hình ảnh lạnh lùng xa lạ cua dan tộc Mãn thanh.
Vì một việc làm vô thức như vậy, mà trong luật lệ của Nhà Nguyên, không còn những điễu khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc A r sa eA A 7 z A A A gv: 2 > A 10 thu, dén các diéu kiện về giả thu, đên chê độ tài san của vợ chồng ”`. ˆ Điều 1064 Bộ luật dân sự Nhật Bản Š Điều 1118 Bộ luật Dân sự Cộng hòa liên bang Nga ? Điều 895 Bộ luật Dân sự Pháp, !° Vũ Văn Mẫu (1973), Cổ luật Việt Nam va Tư pháp sử, Quyên thứ nhất, Tập nhất, Sài Gòn. Dưới thời Pháp thuộc, nước ta bị chia cắt thành các vùng lãnh thô có chế độ chính trị khác nhau, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ, ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Da Nẵng là nhượng địa của Pháp. Tương ứng với các chế độ chính trị khác nhau là hệ thống tô chức tư pháp khác nhau và các bộ luật riêng biệt cũng được ban hành.
Theo đó, van đề thừa kế ở ba kỳ được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau. Ở Bắc kỳ và Trung kỳ vấn đề thừa kế được quy định lần lượt trong Bộ Dân luật Bắc Ky được ban hành năm 1931 với nhan đề chính thức là Bộ Dân luật được thi hành tại các Tòa Nam án Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ được ban hành vào năm 1936 có tên gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật. Chế định thừa kế trong Dân luật Bắc kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật tương đối giống nhau. Trong hai bộ luật này, phần thừa kế được phân thành những quy định chung, thừa kế có di chúc, thừa kế theo pháp luật và các quy định khác như ky điền, hậu điền.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL về việc tạm thời áp dụng các luật lệ cũ, theo đó, “Co đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Tirung và Nam bộ vẫn tam thời giữ nguyên như cit", néu những quy định trong các luật lệ cũ ~ rll "không trái với nên độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoa”.