Chương 1. Một số van dé chung về di chúc và di chúc bang văn bản có công chứng, chứng thực. Quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực. Những vấn đề thực tiễn liên quan đến di chúc băng văn bản có công chứng, chứng thực và một số kiến nghị hoàn thiện.
MOT SO VAN DE CHUNG VE DI CHÚC VÀ DI CHÚC BẰNG VAN BAN CO CONG CHUNG, CHUNG THUC 1. — Khái niệm Pháp luật dân sự quy định việc thừa kế tài sản có thể thực hiện theo luật hoặc theo di chúc. BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS 2015 đã kế thừa và phát triển các quan niệm về thừa kế, thừa kế theo di chúc trong pháp luật của các nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, các bộ luật đều giành riêng một chương để quy định về thừa kế theo di chúc. Trong đó, BLDS 2015 đã giành cả chương XXII với 25 Điều từ Điều 624 đến Điều 648 quy định về thừa kế theo di chúc trong đó có quy định về các loại hình thức của di chúc.
Thừa kế theo di chúc bắt đầu bằng sự kiện chủ sở hữu tài sản thông qua tự do ý chí trên cơ sở của pháp luật quyết định việc lập di chúc, định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình cho một cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tô chức nào đó được hưởng. Hình thức của di chúc được lựa chọn trước hết theo ý chí của người có ý định lập. Tuy nhiên, pháp luật bên cạnh sự quy định, hướng dẫn cũng có những sự định hướng nhất định về hình thức, cách thức lập dé đảm bảo tính có hiệu lực, áp dụng sau này của bản di chúc. Trong di chúc, ngoài việc khang định dé lại tài sản cho ai, người lập di chúc còn có thé ghi nhận thêm những nội dung khác như điều kiện hưởng, thời điểm hưởng, quyền lợi cũng như trách nhiệm của những người liên quan.
Tuy cũng là một dạng giao dịch dân sự, song do đặc thù từ đời sống văn hóa nên di chúc ít nhiều mang những hơi hướng cách thé hiện khá đặc trưng không lẫn với bất kỳ một giao dịch nào khác. Theo Từ điển Tiếng Việt thi di chúc là “Dan lại trước khi chết những việc người sau cân làm và nên làm”. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Thông tư 81/TANDTC ngày 24/07/1981 của Tòa án nhân dân tối cao không trực tiếp đưa ra định nghĩa di chúc nhưng có quy định nội hàm của di chúc tại Phần IV: Thừa kế theo di chúc, theo đó: “Thira kế theo di chúc là việc di chuyển đi sản của một người đã chết cho các người khác theo sự định đoạt của người đó khi còn sống ”. Tới Pháp lệnh thừa kế năm 1990, tại Điều 10 có quy định “Công dân có quyển lập di chúc để chuyển quyên so hữu mot phan hoặc toàn bộ tai sản của minh cho một hoặc nhiều người trong hoặc ngoài các hàng thừa kế theo pháp luật, cũng như cho Nhà nước, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế”.
Tại điều 649 BLDS năm 1995 và Điều 646 BLDS 2005, Điều 624 BLDS 2015 đều quy định “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của minh cho người khác sau khi chết”. Theo các tác giả của cuốn Bình luận khoa học BLDS 2005 tập II thi: “Di chic là sự bày tỏ ý chi của một người khi con sống định đoạt tai san của minh, để chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản của người đó cho một hay nhiễu người thừa kế sau khi chết ”. Như vậy, theo cách hiểu khái quát nhất thì di chúc chính là hình thức thể hiện ý chí cá nhân của người lập di chúc nhằm mục đích chuyên quyền sở hữu tài sản của mình cho các cá nhân, tô chức khác sau khi người lập di chúc chết. Có thé khang định rằng di chúc vừa chứa đựng những nét đẹp văn hóa bên cạnh những giá trị pháp lý.
Thông qua di chúc, cùng với việc khăng định để lại tài sản là gì, cho những ai, thường là những người lớn tuôi trong gia đình sẽ đặn dò con cháu, thực hiện nếp sống tốt đời đẹp đạo, có hiếu, hòa thuận, san sẻ, đùm bọc lẫn nhau, đôi khi có những điều trăn trở mà người ta có thê ghi chép lại rồi đặn dò con cháu. Đặc điểm của di chúc Từ khái niệm nêu trên, có thê thấy di chúc có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, di chúc chính là sự thể hiện ý chí cá nhân của người lập di chúc. Ý chí này được thé hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền quyết định việc chuyển giao tài sản của mình cho ai sau khi cá nhân đó chết. Người lập di chúc không phải bàn bạc, thông qua hay nhận được sự đồng ý từ người thừa kế về nội dung của di chúc.
Di chúc phải được lập một cách tự nguyện, nghĩa là phải có sự thống nhất giữa ý chí thực sự của người lập di chúc và việc thé hiện ra ngoài thông qua hình thức cụ thể. Do đó, di chúc trong pháp luật thừa kế xuất phát từ cá nhân nhưng không phải tat cả những gì xuất phát từ cá nhân đều là di chúc, di chúc phải là ý chí của người lập di chúc nên nếu một văn bản được cho là di chúc của một người nhưng không thê hiện ý chí của người này không phải là di chúc. Bên cạnh đó, người lập di chúc cũng toàn quyền quyết định trong việc dịch chuyên tài sản của mình cho những người không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với mình. Việc cho ai và cho bao nhiêu phan tài sản đều phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc, trừ những trường hợp hạn chế do pháp luật quy định.
Di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân, nên nó được hình thành duy nhất băng ý chí đơn phương của người dé lại di chúc — một bên chủ thé trong quan hệ giao dịch dân sự về thừa kế. Qua việc lập di chúc, cá nhân có ý định làm xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế. Theo đó họ quyết định chuyên giao một phần hoặc toàn bộ tai sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không cần có sự đồng ý của người đó, cũng như không cần biết người đó có nhận di sản của mình hay không. Pháp luật quy định việc lập di chúc phải do chính cá nhân xác lập.
Các chủ thé khác như pháp nhân, tô hợp tác, hộ gia đình không thé xác lập di chúc. Không ai có thé ủy quyền cho một người khác dé thay thé mình lập di chúc. Nhiều hệ thống pháp luật ghi nhận nguyên tắc tuyệt đối theo đó di chúc là hành vi của cá nhân nên di chúc chung không được chấp nhận, dù đó là di chúc chung vợ chồng. Theo quy định của pháp luật Bi thì “di chúc chung không được chấp nhận”, pháp luật Italia cũng quy định di chúc chung vô hiệu toàn bộ.
Tại Li — Bang, di chúc là “hành vi cá nhân và có thé bị hủy bỏ, văn bản không chấp nhận sử dụng di chúc chung”. Qua những dẫn chứng trên, có thể khăng định đặc điểm di chúc chính là sự thể hiện ý chí cá nhân của người lập di chúc. Thứ hai, di chúc thé hiện sự định đoạt tài sản của người lập di chúc cho người khác. Đây là nội dung quan trọng không thê thiếu được của một di chúc nếu muốn được coi là một căn cứ để dịch chuyên tài sản của người chết cho những người khác.
Thông thường, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có một khối tài sản và muốn bằng ý chí của mình để định đoạt tài sản đó cho ai trước khi mình chết, mặt khác, cho dù trước lúc chết, người đó có một khối tài sản và cũng dé lai di chúc nhưng nếu di chúc không chứa dung nội dung này thi cũng không làm phát sinh việc thừa kế theo di chúc. Nghĩa là di chúc đó không có ý nghĩa gì đối với quá trình dịch chuyển di sản. Nói cách khác, di chúc chỉ đem lại ý nghĩa về mặt vật chất cho những người thừa kế theo di chúc đồng thời chỉ thật sự là một phương tiện dé người để lại thừa kế thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình chừng nào di chúc chứa đựng những nội dung trên. Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thé hiện ý chí thỏa thuận của các bên chủ thé nhằm dịch chuyền tai sản từ người này sang người khác khi họ đều còn sống thì di chúc lại nhằm dịch chuyên tài sản của người đã chết sang cho người còn sông.
Thực tiễn cho thấy có nhiều cá nhân để lại lời đặn đò cho người thân trước khi chết. Tuy nhiên, những lời đặn dò không có nội hàm nhằm dịch chuyên tài sản cho người khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự. Chang han, tờ giấy viết là di chúc nhưng có nội dung người viết ' Đỗ Văn Đại (2013), Luật thừa kế Việt Nam — Bản án và bình luận bản án, NXB Chính trị quôc gia, Hà Nội, tr.284 ban di chúc “không có tai sản gì, nhà tại. là của bà Vân” không được coi là di chúc “không có nội dung pháp lý của một di chúc”.
Thứ ba, dị chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chính người dé lại di chúc chết. Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, cá nhân luôn có thê thay đổi ý chí của mình vào bất kỳ thời điểm nào hoặc thậm chí là hủy bỏ di chúc đã lập. Điều đó có nghĩa là nếu cá nhân lập di chúc còn sống thì người thừa kế theo di chúc chưa có bat kỳ một quyên nào đối với tài sản của người lập di chúc và họ cũng chưa chắc được nhận tài sản đó. Khoản 1 Điều 643 BLDS 2015 quy định: “di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế” mà “thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết” (Khoản 1 Điều 611 BLDS 2015).
Pháp luật tôn trọng quyên lập di chúc của cá nhân nhằm đảm bao cho cá nhân thông qua việc định đoạt tài sản của mình dé thé hiện tình cảm, trách nhiệm của mình đối với người khác, vì vậy, nếu sự định đoạt trong di chúc đã lập không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại thì người lập di chúc có quyền sửa đổi, bố sung hoặc hủy bỏ di chúc và thay thé bằng di chúc khác.