Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CÓ QUỐC TỊCH VIỆT NAM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về người Việt Nam định cư ở nước ngoài 1. Khái niệm về người Việt Nam định cư ở nước ngoài Từ trước đến nay, trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, phát biểu của Lãnh đạo có nhiều cụm từ hay khái niệm được sử dụng để nói về đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài như: người Việt Nam ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, công dân Việt Nam ở nước ngoài, người gốc Việt Nam, Việt kiều… Trên thực tế, giữa các cơ quan làm công tác người Việt còn có lúc chưa thống nhất trong việc xác định khái niệm hay đối tượng dẫn đến các văn bản pháp quy liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài không nhất quán gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện. Trong tổ chức bộ máy Nhà nước đã từng tồn tại Ban Việt kiều Trung ương, với tư cách là “cơ quan trực thuộc Chính phủ” có chức năng quản lý Nhà nước và chỉ đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Khái niệm Việt kiều xuất hiện trong Điều 36 Hiến pháp 1959 và Điều 75 Hiến pháp 1980: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của Việt kiều” nhưng khái niệm này vẫn chưa được hiểu thống nhất và có một định nghĩa đầy đủ. Thay thế cho khái niệm Việt kiều, xuất phát từ Hiến pháp 1992, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài lần đầu tiên được giải thích chính thức tại khoản 3 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [39]. Chưa có văn bản nào giải thích “lâu dài” là bao lâu, thường căn cứ vào “giấy phép cư trú” của nước sở tại. Từ đó đến nay các văn bản quy phạm pháp luật đều ghi áp dụng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài (không áp dụng cho Việt kiều hay người Việt Nam ở nước ngoài).
Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì giải 7 thích cụm từ này như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (bỏ chữ “làm ăn”); không đề cập đến khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” [40]. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị “về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” đề cập đến khái niệm “cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” [3]. Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài được giải thích đầu tiên tại khoản 3 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998: “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài” [39]. Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị nêu “cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” bao gồm cả người ra nước ngoài lao động học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình (được hiểu bao gồm người Việt Nam định cư và người ở nước ngoài có thời hạn) [4].
Khái niệm người gốc Việt Nam được nhắc đến trong Luật Quốc tịch 1998 và được giải thích lần đầu tiên tại Thông tư số 2461/2001/TT-BNG ngày 5/10/2001: “người gốc Việt Nam mang hộ chiếu Việt Nam quy định tại Thông tư này được hiểu là người hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam; người có cha đẻ, mẹ đẻ hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam” [8]. Luật Quốc tịch năm 2008 giải thích: “Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [40]. Chúng tôi cho rằng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có huyết thống Việt Nam đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Đặc điểm người Việt Nam định cư ở nước ngoài Theo đánh giá của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài - Bộ Ngoại giao thì trong những năm gần đây, xu hướng phát triển của cộng đồng 8 người Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng ổn định, hội nhập vào xã hội ở đất nước sở tại nhưng vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, từng bước có vị trí nhất định trong việc làm cầu nối cho quan hệ giữa nước ta với các nước sở tại.
Hiện nay, đời sống của phần lớn kiều bào ta ở mức trung bình so với người dân sở tại. Số người giàu có theo tiêu chuẩn của các nước sở tại ngày càng tăng. Các doanh nghiệp của kiều bào ta ngày càng lớn mạnh, vừa tích lũy vừa mở rộng quan hệ làm ăn, bà con đã bước đầu xây dựng được cơ sở cho cuộc sống ổn định lâu dài ở hầu hết các nước và vùng lãnh thổ. Mặc dù tiềm lực kinh tế chưa lớn, nhưng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm năng tri thức đáng kể và rất đa dạng.
Hàng trăm nghìn người được đào tạo ở trình độ đại học hoặc công nhân kỹ thuật bậc cao ở các nước công nghiệp phát triển, có điều kiện tiếp cận với những thông tin và thành tựu mới về quản lý, khoa học và công nghệ. Một số người hiện giữ những vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty, doanh nghiệp lớn hoặc các tổ chức quốc tế. Một thế hệ trí thức mới là những người gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, tập trung nhiều ở lĩnh vực như: luật học, tin học, vật lý, hóa học, điện tử, quản lý, chứng khoán, giáo dục. Người Việt Nam sinh sống ở các nước thường tập trung thành những khu vực, thị trấn, khu phố riêng nên tạo được môi trường thuận lợi cho việc gìn giữ bản sắc dân tộc và các sinh hoạt truyền thống.
Tuy vậy, nhiều gia đình phải vật lộn kiếm sống và ít có cơ hội về nước nên chưa có điều kiện chăm lo giữ gìn các giá trị văn hóa Việt Nam. Do ở nước ngoài nhiều năm nên trong các gia đình 3-4 thế hệ thường có hiện tượng ông bà, cha mẹ còn nói với nhau bằng tiếng Việt, nhưng con cháu nói được rất ít hoặc chỉ nghe hiểu mà không nói, không viết được bằng tiếng Việt. Cộng đồng người Việt hình thành từ năm 1975 trở lại đây, tuy phần lớn mới có 2-3 thế hệ, nhưng thế hệ sinh trưởng ở nước ngoài cũng đang ngày càng nói được ít tiếng Việt. Do đó, nhu cầu giao lưu văn hóa giữa 9 cộng đồng Việt và nhu cầu giữ gìn tiếng Việt ngày càng trở nên ít đi.
Nhiều người Việt ra đi trong những năm 1975 còn mặc cảm với quá khứ của mình. Do chưa có điều kiện tiếp cận với những thông tin trung thực về sự đối thay ở quê nhà nên những người này ít nhiều còn có thành kiến với cuộc sống trong nước. Một số ít còn mang tư tưởng hận thù. So với nhiều cộng đồng kiều dân khác trên thế giới đây là điểm khá điển hình của bộ phận kiều bào.
So với cộng đồng ngoại kiều khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng đồng trẻ, năng động, thông minh nhanh chóng hòa nhập vào xã hội nước sở tại và có xu hướng định cư lâu dài ở những nước như Mỹ, Úc, Ca-na-đa và các nước Tây Âu. Trong khi phần lớn người Việt Nam ở Đông Âu và Nga vẫn coi cuộc sống ở nước sở tại là tạm cư với mục đích làm ăn kinh tế là chính, khi có điều kiện sẽ trở về nước sinh sống. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng khá phức tạp về thành phần xã hội, phức tạp về xu hướng chính trị và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo… bị chi phối, phân hóa bởi sự khác biệt về giai tầng xã hội, hoàn cảnh ra đi khỏi đất nước, địa bàn nơi cư trú và đặc biệt là chính kiến rất khác nhau, đa dạng. Tính liên kết, gắn bó ở một số cộng đồng không cao, do sinh sống phân tán, rất khó tập trung liên kết.
Ở một số nước, chính quyền có chủ trương bố trí cho cộng đồng ngoại kiều sinh sống phân tán, nhỏ lẻ để dễ quản lý. Việc duy trì tiếng mẹ đẻ và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống đang là thách thức lớn đối với những thế hệ tiếp sau của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Dù được coi là hòa nhập thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, nhưng tiềm lực kinh tế của cộng đồng người Việt còn hạn chế, thu nhập nhìn chung còn thấp so với mức bình quân của người bản xứ. Nhiều người Việt có cuộc sống ổn định song vẫn phải nhờ vào trợ cấp xã hội.
Qua nhiều cách tiếp cận khác nhau cho thấy, tiềm lực chất xám, trí tuệ của cộng đồng người Việt ở nước ngoài là đáng kể, nhất là ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nga, Đông Âu. Có tài liệu ước tính khoảng 400 ngàn người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ đại học, trên đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có thông tin kiến thức cập 10 nhật về khoa học và công nghệ, về kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng chỉ số học vấn trung bình hiện nay của người Việt vẫn còn thấp, ví dụ như ở Mỹ thấp hơn nhiều so với người Ấn, người Hoa, người Hàn Quốc. Đáng chú ý là dù người Việt sống ở bất kỳ nơi nào trên thế giới thì cộng đồng người Việt luôn mong muốn được đào tạo nâng cao trình độ, làm ăn và hướng về quê hương đầu tư cho đất nước phát triển và hội nhập với thế giới nhanh hơn nữa.
Tuy nhiên, có một bộ phận đồng bào do chưa hiểu đúng về tình hình đất nước nên còn có thái độ tiêu cực hoặc dè dặt đối với đất nước, thậm chí có một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của toàn dân tộc [42]. Quá trình hình thành cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Cách đây hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống. Lịch sử còn ghi lại vào thế kỷ thứ 12 con cháu dòng họ Lý đã sang Hàn Quốc lập nghiệp. Thế kỷ 17 có người Việt Nam sang làm ăn tại Campuchia.
Thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ 19 người Việt sang lánh nạn và làm ăn tại Campuchia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc….