chương 1, chúng ta đã tìm hiểu về lý thuyết bộ ba bất khả thi. Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo cứu TQ nhằm mục đích: xem xét lý thuyết bộ ba bất khả thi hoạt động như thế nào ở TQ, dựa trên kết quả khảo cứu về TQ chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị để giải quyết các vấn đề thực tiễn ở VN. Để xem xét tác động của lý thuyết bộ ba bất khả thi ở TQ, việc khảo cứu sẽ được xét đến trên 3 khía cạnh: mức độ kiểm soát vốn, cơ chế tỷ giá, và sự độc lập của chính sách tiền tệ của TQ khi thực hiện tự do hoá tài khoản vốn dưới cơ chế tỷ giá cố định.TRUNG QUỐC TIẾN HÀNH KIỂM SOÁT TÀI KHOẢN VỐN (1979 - 1996) Từ khi đưa ra chính sách cải cách và mở cửa nền kinh tế vào năm 1979, TQ đã có những đột phá trong cải cách cơ chế kiểm soát vốn. Năm 1994, TQ đưa ra các biện pháp cải cách mạnh tay nhằm xây dựng lại hệ thống kiểm soát ngoại hối, và dẫn đến việc thành lập các hệ thống như: Mua và giao nộp ngoại hối thông qua các ngân hàng chỉ định; thị trường ngoại hối liên ngân hàng.
Tháng 12/1996, TQ thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng NDT cho các giao dịch tài khoản vãng lai, và loại bỏ tất cả các hạn chế về quy định, số lượng ngoại tệ sử dụng cho các giao dịch tài khoản vãng lai.2 Nhưng trên thực tế, TQ vẫn đang tiếp tục duy trì một sự kiểm soát nhất định đối với các giao dịch ngoại hối trong tài khoản vốn, bao gồm các hạn chế cho dòng vốn quốc tế cũng như kiểm soát về quy định và số lượng đối với việc chuyển đổi giữa đồng NDT và các ngoại tệ khác. Trong các loại giao dịch, các hạn chế đối với tài khoản vốn chủ yếu thể hiện trong 3 khía cạnh: - Các hạn chế đối với NĐTNN tiếp cận thị trường tài chính nội địa và các hạn chế cho nhà đầu tư nội địa tiếp cận thị trường tài chính nước ngoài. Trong quá trình mở cửa thị trường vốn đối với NĐTNN, chính quyền TQ đã và đang theo đuổi một chiến lược mang tên “ Phân khúc thị trường theo từng loại nhà đầu tư”. Theo đó, các NĐTNN chỉ được cho phép mua các cổ phần, các công cụ nợ định danh bằng ngoại tệ trên cả thị trường nội địa và nước ngoài, bao gồm: thị trường cổ phần B, cổ phần H, cổ phần Red chip, và 2 Năm 1996, Trung quốc chính thức chấp nhận các nghĩa vụ của Khoản 3, mục 2, 3,4 Thoả Thuận của IMF (IMF Article III Agreements, sections 2,3,4) năm 1996.
Đây là một thoả thuận nhằm đưa ra các cam kết về biện pháp kiểm soát dòng vốn quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 24 - các trái phiếu bằng ngoại tệ ở nước ngoài, nhưng không được phép mua các cổ phần A, trái phiếu và các công cụ thị trường tiền tệ định danh bằng đồng NDT3. - Các hạn chế đối với việc vay nợ nước ngoài. TQ quy định các doanh nghiệp nội địa cần đáp ứng một số tiêu chuẩn khi vay nợ nước nước ngoài.
Những khoản vay này phải có được sự chứng nhận của các cơ quan chức năng có liên quan, cũng như các điều kiện vay phải được xem xét và chấp thuận bởi SAFE. - Các hạn chế đối với đầu tư trực tiếp. Đối với các NĐTNN, không có hạn chế được đặt ra cho các hoạt động đầu tư trực tiếp của họ vào TQ ngoại trừ việc phải tuân thủ các hướng dẫn chính sách ngành do chính phủ TQ ban hành. Tuy nhiên, các hoạt động đầu tư trực tiếp ra bên ngoài do các tổ chức trong nước thực hiện phải được sự chấp thuận của cơ quan chính phủ có liên quan; nguồn ngoại tệ cần thiết để thực hiện đầu tư ra nước ngoài đó cần được đánh giá, phê chuẩn bởi SAFE.
Nói tóm lại, TQ sử dụng biện pháp kiểm soát vốn trực tiếp với tài khoản vốn. Theo đó, các hạn chế chủ yếu dựa trên việc phê chuẩn hành chính và giới hạn về số lượng. Tuy nhiên, các đối tượng khác nhau và bộ phận khác nhau trong dòng vốn đều có mức độ kiểm soát vốn khác nhau. Ví dụ, có ít hạn chế hơn đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các định chế tài chính trong nước, nhưng lại có nhiều hạn chế hơn đối với các doanh nghiệp nội địa.
Hoặc ngay trong tài khoản vốn, các giới hạn đối với dòng vốn FPI cũng khắt khe hơn rất nhiều so với dòng vốn FDI.QÚA TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG TỰ DO HOÁ TÀI KHOẢN VỐN CỦA TRUNG QUỐC (GIAI ĐOẠN 1996 ĐẾN NAY) 2.Áp lực mở cửa nền kinh tế tạo nên xu hướng tự do hoá tài khoản vốn Đây là giai đoạn mà nền kinh tế TQ tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh và hội nhập nhanh hơn vào nền kinh tế thế giới. Mức độ mở cửa của nền kinh tế TQ là 0,7 thuộc vào mức cao4. Do vậy TQ nhanh chóng trở thành một nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Trong vài năm gần đây, TQ đã trở thành điểm đến hàng đầu cho đầu tư trực tiếp nước ngoài.
FDI của TQ tăng từ 40 tỷ USD (năm 1997) lên đến 67 tỷ USD (năm 2007), và là quốc gia thu hút dòng vốn FDI lớn nhất trong số các quốc gia đang phát triển (chiếm 10% lượng vốn FDI toàn cầu). 3 Xem phần phụ lục 2.2 để biết thêm về cách phân chia các cổ phần ở Trung Quốc. 4 Mở cửa thương mại được tính bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP vào năm 2004. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 25 - Tuy nhiên, đối với dòng vốn FPI, các biện pháp kiểm soát vốn của TQ vẫn tiếp tục chặt chẽ.
Chỉ số kiểm soát vốn (CCI index) của TQ trong giai đoạn từ năm 1996-2004 khoảng 0,83 cao hơn so với nhiều nước5. Chính vì thế, xu hướng dòng vốn FPI vào TQ trong thời gian này chỉ tăng nhẹ và có tỷ trọng thấp so với FDI hoặc GDP (xem hình 2.2: Dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc từ năm 1982 – 2004 Nguồn: “The composition of foreign investment in china and the governance environment” – MGRU workshop 27/08/04 2.QFII như là một bước đi lớn hướng đến tự do hoá tài khoản vốn Dù những biện pháp kiểm soát vốn của TQ là “cởi mở” với dòng vốn FDI, nhưng vẫn “khắt khe” đối với dòng vốn FPI .Tuy nhiên, TQ ngày càng thấy được lợi ích to lớn từ việc tự do hoá tài khoản vốn và đã có những bước đi nhằm thực hiện xu hướng tự do hoá. Bước đi đầu tiên có nhiều ý nghĩa là đưa ra QFII (Nhà đầu tư tổ chức ngoại đủ tiêu chuẩn) vào tháng 12/2002. Đây là một quyết định chung của Uỷ ban luật chứng khoán TQ (CSRC) và Uỷ ban quản lý hành chính nhà nước về ngoại hối (SAFE) sau 2 năm nghiên cứu.
Theo đạo luật QFII6, các nhà đầu tư đủ tiêu chuẩn được cho phép đầu tư vào các chứng khoán định danh bằng nội tệ và niêm yết trên thị trường TQ, gồm cổ phần A, trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp bằng nội tệ, các nguồn vốn được giao dịch ngoại hối (ETFs) và các chứng khoán khác. Mỗi QFII được cấp hạn ngạch đề đầu tư. Đến tháng 3/2007, TQ đã chấp nhận cho 5 Xem phụ lục 2.1 để biết về chỉ số CCI và hiệu quả kiểm soát vốn của Trung Quốc. 6 Xem thêm phụ lục 2.4 : Tìm hiểu luật QFII của Trung Quốc Đại Lục.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 26 - 52 công ty nước ngoài là QFII và được cấp tổng hạn ngạch đầu tư là 10 tỷ USD vào thị trường cổ phần A.7 Để khuyến khích việc nắm giữ dài hạn và giảm biến động trong ngắn hạn, các quy định yêu cầu các thành viên của QFII thực hiện hoạt động đầu tư của họ tối thiểu 12 tháng trước khi họ có thể thưc hiện chuyển lãi vốn và vốn về nước. Trước khi đưa ra đạo luật QFII, các nhà đầu tư quốc tế có thể tiếp cận các chứng khoán của TQ từ Hồng Kông, đó là Red chip và cổ phần H. Với xấp xỉ gần 100 công ty niêm yết trên sàn Hồng Kông, thì đây là một hạn chế. Ngược lại, thị trường vốn nội địa của TQ với hơn 1227 công ty niêm yết, có giá trị vốn hoá thị trường (560 tỷ USD) đứng thứ hai ở Châu Á Thái Bình Dương sau Nhật Bản (số liệu năm 2003).
Do vậy, việc đưa ra chương trình QFII thực sự là một kênh chào đón các nhà đầu tư quốc tế để tiếp cận trực tiếp với thị trường vốn TQ.Sự phát triển của thị trường cổ phiếu B8 Thị trường cổ phần B bắt đầu xuất hiện vào năm 1991, và đúng như tên gọi của nó là để dành riêng cho các NĐTNN. Cổ phần B được định danh bằng đồng tiền NDT nhưng được phép mua và bán bằng đồng ngoại tệ, được niêm yết và giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán TQ. Tại sàn Thượng Hải, cổ phiếu B được yết giá bằng đồng USD; tại sàn Thâm Quyến, cổ phiếu B được yết giá bằng đồng HKD. Cổ tức và các khoản thanh toán khác của công ty phát hành phải được tính và khai báo bằng đồng NDT nhưng được chi trả bằng đồng ngoại tệ.
Cho đến đầu năm 2001, cổ phần loại B vẫn còn bị cấm sở hữu cho các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức của TQ. Tuy nhiên, chính sách này được thay đổi bởi một sắc lệnh ban hành tháng 2 năm 2001, theo đó cho phép các nhà đầu tư các nhân nội địa được quyền mua và bán cổ phần B. Tuy nhiên, cổ phần B vẫn được mua bằng đồng ngoại tệ. Như vậy, các nhà đầu tư TQ có thể sử dụng tiền nước ngoài trong các tài khoản ngân hàng để mua các cổ phần này.Sự bùng nổ của TTCK và dòng vốn FPI (từ năm 2005 đến nay) Đây là giai đoạn thăng hoa của thị trường chứng khoán TQ.
Năm 2007, chỉ số SCI (Shanghai Composite Index) tăng 162%. Ngày 8/8/2007, thống kê cho thấy giá trị vốn hoá thị trường của TTCK TQ là 21.147 tỷ NDT, cao hơn cả GDP của trung Quốc năm 2007 là 21. Năm 2007, sàn Thượng Hải đứng đầu thế giới về hoạt động IPO với tổng số vốn huy động lên đến 60,3 tỷ USD. Vụ IPO của Petrochina với 8,39 tỷ USD trở thành một trong những vụ IPO lớn nhất trong lịch sử.
Và tất nhiên đi cùng với sự phát triển của 7 Thông tin được truy cập từ website: http://www. 8 Xen thêm phụ lục 2. Tìm hiểu thị trường cổ phiếu loại B. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.