Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Lý luận về tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng 1. Khái niệm về tranh chấp quyền sử dụng đất Ở nước ta, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai bằng một trong những phương thức là giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (goi chung là người sử dụng đất (SDĐ).
Như vậy, xét mặt lý luận, ở nước ta không có tranh chấp đất đai mà chỉ tổn tại tranh chấp QSDĐ nói chung và tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng. Tuy nhiên, trong Luật đất đai năm 2013 sử dụng thuật ngữ tranh chấp đất đai mà không sử dụng thuật ngữ tranh chấp QSDĐ. Do đó, xét trong phạm vi luận văn này, khái niệm tranh chấp đất đai được hiểu đồng nghĩa với khái niệm tranh chấp QSDĐ. Vậy tranh chấp đất đai là gì?.
Theo Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học: Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai [36]. Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai [34] Theo Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai [22]. Trên thực tế, tranh chấp đất đai (TCĐĐ) được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng trên một khu đất cụ thể. Các bên tranh chấp không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử.
Cần làm rõ TCĐĐ ở nước ta chính là tranh chấp QSDĐ hay bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ? Về nội dung này, trong khoa học pháp lí hiện nay còn tồn tại hai quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCĐĐ chỉ là tranh chấp về QSDĐ. Theo đó, TCĐĐ không xác định được là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ đơn lẻ của người SDĐ do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người SDĐ có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng là chỉ bao gồm 8 người SDĐ hay là tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người SDĐ trong quan hệ TCĐĐ. Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của TCĐĐ nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể.
Trường phái này cho rằng việc mở rộng khái niệm TCĐĐ trong điều kiện của nước ta hiện nay là chưa hợp lý; vì xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì người SDĐ chỉ có quyền sử dụng đối với đất đai. Vì vậy, cái mà họ tranh chấp khi TCĐĐ chỉ có thể là QSDĐ. Mặt khác, các thuật ngữ TCĐĐ và tranh chấp QSDĐ đã được sử dụng như những thuật ngữ thay thế nhau kể từ khi có Luật đất đai năm 1987 đến nay mà không có sự phân biệt. Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến QSDĐ của người SDĐ cũng đã từng được quy định cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là tranh chấp liên quan đến QSDĐ chứ không phải TCĐĐ một cách chung chung [14, tr.
Theo đó, họ cho rằng, định nghĩa TCĐĐ theo Khoản 24, Điều 3 Luật đất đai năm 2013 do có nội hàm rất rộng nên đã gây nhiều cách hiểu không chính xác. Do đó, TCĐĐ cần được hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất cụ thể giữa các chủ thể trong hoạt động quản lý, SDĐ. Còn các dạng tranh chấp khác, đều được hiểu là tranh chấp liên quan đến đất đai và được giải quyết bởi cơ quan tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, mà không có sự ràng buộc với những quy định về giải quyết tranh chấp trong pháp luật đất đai. Quan điểm thứ hai, nhận định TCĐĐ bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ; bởi lẽ, trong pháp luật đất đai, trước khi Luật đất đai năm 2003 được thông qua và có hiệu lực thi hành thì khái niệm TCĐĐ hầu như chưa được ai đề cập một cách chính thống và giải thích cụ thể.
Mặc dù vậy, hiện tượng TCĐĐ trong xã hội được pháp luật ghi nhận và quy định việc giải quyết. Luật đất đai năm 2003 lần đầu tiên giải thích thuật ngữ TCĐĐ. Kế thừa quy định này, khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 ghi nhận: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Do vậy, đối tượng tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của người SDĐ, bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ.
Mặt khác, xem xét ở góc độ thực tiễn xét xử, ngành tòa án ở nước ta vẫn thống kê các tranh chấp liên quan đến QSDĐ vào mục TCĐĐ nói chung. Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT -TANDTC - VKSNDTC - BTNMT ngày 03/01/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến QSDĐ sử dụng thuật ngữ khác là “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền của Toà án. Theo đó, các tranh chấp liên 9 quan đến QSDĐ thuộc thẩm quyền của Toà án bao gồm: - Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ; - Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; - Thừa kế QSDĐ; - Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc SDĐ. Vậy, thuật ngữ “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng, bao gồm cả tranh chấp về QSDĐ và tài sản gắn liền với đất.
Theo suy luận logic thì tranh chấp về QSDĐ sẽ bao gồm ba loại: tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ (thực chất là tranh chấp QSDĐ hay cụ thể hơn là kiện đòi đất đang bị người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới); tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; tranh chấp thừa kế QSDĐ. Không thể phủ nhận rằng, mỗi quan điểm trên đây đều được lập luận dựa trên những căn cứ nhất định. Song thiết nghĩ, việc hiểu và vận dụng “TCĐĐ” bao gồm cả tranh chấp QSDĐ và tranh chấp liên quan đến QSDĐ là hợp lý cả về vấn đề logic ngôn ngữ và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự, nên bên cạnh những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, TCĐĐ còn mang những đặc trưng riêng khác với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh doanh, thương mại… Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, chủ thể TCĐĐ chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và QSDĐ, mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai; bởi lẽ, đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước trao QSDĐ cho người SDĐ thông qua việc giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ.
Do đó, QSDĐ của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc Nhà nước cho phép nhận QSDĐ hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của TCĐĐ là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý hoặc người SDĐ. Thứ hai, nội dung của TCĐĐ rất đa dạng và phức tạp. Hoạt động quản lý và SDĐ trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc SDĐ vào nhiều mục đích khác nhau với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau.
Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và SDĐ không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Đất đai đã trở thành một loại hàng hoá đặc biệt, có giá trị thương mại. Giá đất lại có biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường. Vì vậy, 10 việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng, mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất thông qua các hành vi kinh doanh QSDĐ.
Tất nhiên, khi nội dung quản lý, SDĐ phong phú, phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và SDĐ đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn. Thứ ba, TCĐĐ phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp, mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội. Thứ tư, đối tượng của TCĐĐ là quyền quản lý và QSDĐ. Đất đai là loại tài sản đặc biệt, không thuộc quyền sở hữu các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu … 1.
Khái niệm tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng Tranh chấp QSDĐ trồng rừng là một dạng cụ thể của tranh chấp đất đai phát sinh trong thực tế quản lý và SDĐ trồng rừng ở nước ta. Tranh chấp QSDĐ trồng rừng là một thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp luật đất đai nhưng lại không được giải thích chính thức trong Luật đất đai năm 2013. Trên cơ sở khái niệm chung về TCĐĐ, tác giả cho rằng khái niệm tranh chấp QSDĐ được hiểu như sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất trồng rừng.