phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh mục viết tắt; phần chính của luận văn có 03 chƣơng và những nội dung sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Chƣơng 2: Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động tập thể trong doanh nghiệp và thực ti n tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tập thể và một số giải pháp. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH 1.
Khái quát tranh chấp lao động tập thể về lợi ích 1. Khái niệm tranh chấp lao động Trong quan hệ đ i sống xã hội di n ra hằng ngày thì có nhiều mối quan hệ khác nhau giữa cá nhân, tổ chức và trong mối quan hệ ấy có sự mâu thuẫn lẫn nhau, không giải quyết đƣợc thì dẫn đến sự tranh chấp. Tranh chấp là những mâu thuẫn và xung đột phát sinh trong đ i sống, giữa các mối quan hệ khác nhau của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Mâu thuẫn có ở nhiều lĩnh vực khác nhau, rất rộng và ở nhiều phạm vi, nhiều dạng, trong đó có tranh chấp lao động.
Vụ việc tranh chấp lao động (TCLĐ) xảy ra khi các bên trong quan hệ lao động đã tự bàn bạc, thƣơng lƣợng mà không đi đến thỏa thuận chung hoặc một trong hai bên từ chối thƣơng lƣợng, cần phải có sự can thiệp của chủ thể thứ ba thông qua thủ tục hòa giải, trọng tài hoặc xét xử. Ở mỗi quốc gia sẽ có mỗi quan niệm về TCLĐ khác nhau do cơ chế giải quyết tranh chấp của mỗi quốc gia cũng khác nhau nên dẫn đến xây dựng định nghĩa, khái niệm tranh chấp cũng khác nhau. Nhƣ ở Trung quốc có nêu định nghĩa về TCLĐ là tranh chấp giữa các bên trong quan hệ lao động phát sinh từ việc thực hiện pháp luật lao động và thực hiện hợp đồng lao động, tức là tranh chấp giữa NLĐ với đơn vị của họ về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động.2 Hoặc ở Anh định nghĩa về TCLĐ nhƣ sau “TCLĐ có nghĩa là bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc tuyển dụng lao động hoặc các điều khoản thỏa thuận về thuê mƣớn lao động hoặc liên quan đến các điều kiện lao động của bất kỳ ngƣ i nào, giữa ngƣ i sử dụng lao động và NLĐ hoặc giữa NLĐ và ngƣ i sử dụng lao động”. Định nghĩa này đã đƣợc nhiều quốc gia áp dụng và thừa nhận, bao gồm Brunei, Hồng Kông, Malaysia, Singapore và nhiều nƣớc khác.
2 Cục Nhân sự và An sinh xã hội thành phố Yiyang (2022), N m m i câu ỏi về trọn t i doan n iệp, 18/02/2022, https://www-yiyang-gov-cn.goog/rsj/4548/4557/content. 8 Ở pháp luật Việt Nam, theo khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 có quy định: T LĐ là tranh chấp về quyền và n ĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. TCLĐ giữa NLĐ và ngƣ i sử dụng lao động dựa trên quan hệ lao động và liên quan đến quyền, nghĩa vụ của hai bên. TCLĐ phát sinh khi xác lập quan hệ lao động, phát sinh từ việc giao kết, thực hiện, sửa đổi, hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng lao động, phát sinh từ việc bãi nhiệm, từ chức; tranh chấp về th i gi làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, bảo hiểm xã hội, phúc lợi, đào tạo và bảo hộ lao động; tranh chấp phát sinh từ tiền lƣơng lao động, chi phí y tế thƣơng tật liên quan đến công việc, bồi thƣ ng.
Do đó, mỗi quốc gia tiếp cận khái niệm TCLĐ từ những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, về bản chất, khái niệm TCLĐ đều dựa trên mối quan hệ giữa NLĐ và ngƣ i sử dụng lao động, và TCLĐ phát sinh từ sự mâu thuẫn và xung đột về quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ lao động và các chủ thể có liên quan. Nhƣ vậy, có thể rút ra định nghĩa về tranh chấp lao động là tranh chấp phát sinh từ việc các bên trong quan hệ lao động, liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động n tranh chấp quyền và lợi ích của các bên trong quá trình xác lập, thực hiện, chấm dứt quan hệ lao động có phát sinh tranh chấp n n không thể bàn bạc t n l ợn đ ợc và cần phải có sự can thiệp của chủ thể thứ ba thông qua thủ tục hòa giải, trọng tài hoặc xét xử. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp lao động tập thể Mặc dù đều là tranh chấp phát sinh giữa NLĐ và ngƣ i sử dụng lao động, tuy nhiên do nguyên nhân gây ra tranh chấp khác nhau, nên mỗi quốc gia có cách phân loại các tranh chấp cũng không đồng nhất.
Hiện nay, một số nƣớc nhƣ Pháp, Bỉ, Đức, Ý, Việt Nam,. chia tranh chấp ra làm hai loại đó là TCLĐ cá nhân và TCLĐTT. Sự khác nhau cơ bản giữa TCLĐ cá nhân và TCLĐTT: 9 - TCLĐ cá nhân là tranh chấp lao động giữa một cá nhân hoặc một nhóm NLĐ với ngƣ i sử dụng lao động về quyền lợi và nghĩa vụ đơn lẻ của từng cá nhân, trong quá trình tranh chấp không có sự liên kết giữa những NLĐ tham gia tranh chấp và tổ chức công đoàn chỉ tham gia với tƣ cách là ngƣ i đại diện bảo vệ NLĐ. - TCLĐTT là tranh chấp giữa tập thể NLĐ với ngƣ i sử dụng lao động về quyền lợi và lợi ích thống nhất của tập thể, quá trình tranh chấp thể hiện tính tổ chức cao của tập thể NLĐ và có sự tham gia của tổ chức công đoàn với tƣ cách là một bên của tranh chấp.
- Chủ thể: TCLĐ cá nhân là TCLĐ xảy ra giữa cá nhân NLĐ hoặc một nhóm NLĐ với ngƣ i sử dụng lao động. TCLĐTT là tranh chấp giữa tập thể NLĐ với ngƣ i sử dụng lao động. Tập thể NLĐ thƣ ng bao gồm mọi NLĐ trong một đơn vị sử dụng lao động hoặc một bộ phận của đơn vị sử dụng lao động. Nhƣ vậy, trong trƣ ng hợp TCLĐ cá nhân là tranh chấp giữa một cá nhân NLĐ với ngƣ i sử dụng lao động thì có thể d dàng phân biệt với TCLĐTT.
Tuy nhiên, nếu TCLĐ cá nhân có sự tham gia của một nhóm NLĐ thì việc phân biệt TCLĐ cá nhân với TCLĐTT khó khăn hơn. - Nội dung: Đây là tiêu chí quan trọng nhất phân biệt hai loại tranh chấp. Nội dung của TCLĐ cá nhân chỉ liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân hoặc của một nhóm NLĐ. Mục đích mà các bên hƣớng tới luôn mang tính cá nhân.
Vì vậy, nếu một vụ tranh chấp có nhiều NLĐ tham gia nhƣng mỗi ngƣ i chỉ quan tâm đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì vẫn coi đó là TCLĐ cá nhân. Trong khi đó, nội dung của TCLĐTT thể liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cả tập thể NLĐ. Đích nhắm tới của các bên bao gi cũng mang tính chất tập thể. Quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên mong muốn thƣ ng là quyền và nghĩa vụ chung của cả một đơn vị sử dụng lao động hoặc một bộ phận của đơn vị sử dụng lao động đó.
- Tính chất tranh chấp: TCLĐ cá nhân thƣ ng mang tính chất đơn lẻ. TCLĐ cá nhân không có sự liên kết của nhiều ngƣ i. Nếu có nhiều ngƣ i cùng tham gia tranh chấp mà mối liên hệ của họ r i rạc không có sự kết dính thì vẫn là TCLĐ cá nhân. Ngƣợc lại, trong TCLĐTT, tính tổ chức bao gi cũng là yếu tố hàng đầu.
Giữa những NLĐ tham gia 10 tranh chấp có sự liên kết chặt chẽ với nhau và sự liên kết này tạo nên sức mạnh của cả tập thể, là áp lực đối với ngƣ i sử dụng lao động. Do đó, TCLĐTT thƣ ng ở quy mô lớn và mang tính đoàn kết cao. - Vai trò của tổ chức công đoàn: Tiêu chí này chỉ có nghĩa trong những đơn vị sử dụng lao động có tổ chức công đoàn hoặc có ban chấp hành công đoàn lâm th i. Trong TCLĐ cá nhân, tổ chức công đoàn tham gia vào tranh chấp với tƣ cách là ngƣ i đại diện bảo vệ NLĐ.
Tức là công đoàn là chủ thể thứ ba đứng ngoài tranh chấp, không phải là một bên của tranh chấp. Tổ chức công đoàn chỉ đứng ra đề nghị ngƣ i sử dụng lao động xem xét và giải quyết những yêu cầu của NLĐ với tƣ cách là ngƣ i đại diện, bảo vệ cho họ. Ngƣợc lại, trong TCLĐTT, tổ chức công đoàn trực tiếp tham gia tranh chấp, là một bên của tranh chấp, đại diện cho tập thể NLĐ làm việc với ngƣ i sử dụng lao động. Đồng th i, tổ chức công đoàn còn có vai trò to lớn trong vận động và tổ chức NLĐ nhằm tạo nên sức mạnh của cả tập thể NLĐ.
Tại Điều 7 BLLĐ của Canada năm 1985 định nghĩa TCLĐTT dƣới góc độ là TCLĐTT về lợi ích: “Tranh chấp liên quan đến việc ký kết, gia hạn hoặc sửa đổi Thỏa ớc lao động tập thể”. Khái niệm TCLĐTT nêu trên đƣợc đa số các quốc gia thừa nhận. Mỗi quốc gia có cách phân loại khác nhau nhƣng nhìn chung nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh tranh chấp thì đa số các quốc gia phân loại TCLĐTT thành hai loại: TCLĐTT về quyền và TCLĐTT về lợi ích. Các nƣớc nhƣ Áo, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Pháp, Phần Lan, Ý, Úc, Đài Loan, Nhật Bản, Newzealand, Hồng Kông, các nƣớc Châu Mỹ La Tinh (Elslavador, Peru, Venezuela) và các nƣớc ở khu vực Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Indonesia,.
) đều áp dụng cách phân loại TCLĐTT thành hai loại đó là TCLĐTT về quyền và TCLĐTT về lợi ích. Khác với tranh chấp lao động cá nhân, TCLĐTT liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều NLĐ do đó hậu quả pháp lý kéo theo khi tranh chấp xảy ra không chỉ liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của một cá nhân nào đó mà liên quan đến quyền lợi của cả một tập thể đặc biệt ảnh hƣởng lớn đến tính chất quan hệ lao động cũng nhƣ sự phát triển 11 của nền kinh tế quốc gia. Theo quy định Điều 179 BLLĐ năm 2019 quy định: T LĐTT về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện NLĐ với n ời sử dụn lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của n ời sử dụn lao động.