Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án nhân dân. Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án nhân dân và thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại toàn án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án nhân dân và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN 1.
Tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 1. Tranh chấp lao động cá nhân 1. Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường phát sinh thông qua hình thức hợp đồng lao động theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ. Đây là mối quan hệ hợp tác cùng có lợi, trên cơ sở hiểu biết giữa các chủ thể để cùng đạt được lợi ích mà mỗi bên đã đặt ra trong quan hệ lao động.
Nhưng do mục tiêu đạt được lợi ích tối đa là động lực trực tiếp và cũng là động lực cao nhất của cả hai bên, mà giữa họ khó có thể dung hoà được quyền lợi trong suốt quá trình thực hiện quan hệ lao động [18, tr. NLĐ thường có nhu cầu cải thiện điều kiện làm việc cũng như các điều kiện đảm bảo cho cuộc sống như tăng lương, giảm thời gian lao động và mong muốn được làm việc trong điều kiện, môi trường ngày càng tốt hơn…, bên cạnh đó NSDLĐ lại luôn có xu hướng ngược lại là tăng cường độ, thời gian làm việc, giảm chi phí nhân công… nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn. Những nhóm nhu cầu, lợi ích ngược chiều này sẽ trở thành những bất đồng, mâu thuẫn nếu hai bên không biết dung hoà quyền lợi với nhau. Do đó sự phát sinh TCLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ là tất yếu, khó tránh khỏi.
TCLĐ cá nhân là một hiện tượng khách quan, phát sinh, tồn tại gắn liền với quan hệ lao động. Tùy điều kiện kinh tế - xã hội và tập quán ở mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau, do đó pháp luật ở mỗi quốc gia khác nhau cũng có sự khác nhau về khái niệm TCLĐ cá nhân. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Vương quốc Anh, Đạo luật công nghiệp 1919 định nghĩa: “TCLĐ là bất kì tranh chấp nào giữa NLĐ và NSDLĐ hoặc giữa NLĐ với nhau – vốn gắn với việc tuyển dụng hay không được tuyển dụng, hoặc điều khoản tuyển dụng, hoặc điều kiện lao động” [6, tr. 26] Luật lao động của vương quốc Campuchia ngày 13/3/1997 không đưa ra định nghĩa chung về TCLĐ mà phân chia TCLĐ thành TCLD cá nhân và TCLĐ tập thể.
Theo đó, đoạn thứ nhất Điều 300 luật này quy định: Một tranh chấp cá nhân phát sinh giữa NSDLĐ và một hoặc nhiều NLĐ hoặc người học nghề, liên quan đến việc giải thích và thực thi các điều khoản của hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thử việc, hoặc các quy định của một thỏa thuận tập thể cũng như những quy định hay luật có hiệu lực [6, tr. Ở Indonesia thì TCLĐ không được phân thành TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể. Ở đây TCLĐ được phân loại thành TCLĐ về quyền, TCLĐ về lợi ích, TCLĐ về chấm dứt việc làm và TCLĐ giữa các công đoàn [6, tr. 27] Pháp luật Malaysia trong đạo luật về quan hệ công nghiệp 1967 thì định nghĩa TCLĐ là bất kỳ một sự tranh chấp nào giữa NSDLĐ với công nhân của người đó mà có liên quan đến việc sử dụng lao động hay những điều kiện làm việc của bất kỳ công nhân nào kể trên.
Từ quan niệm như vậy, Malaysia phân biệt TCLĐ về hai loại tranh chấp: tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích. Tranh chấp về quyền là những tranh chấp liên quan đến việc công nhận các công đoàn hoặc quyền của một công đoàn nào đó được đại diện cho một lớp hay một loại công nhân riêng biệt nào đó, tranh chấp về việc không chấp hành đúng thỏa ước lao động tập thể và những tranh chấp nảy sinh từ những vi phạm luật lệ bảo hộ lao động. Tranh chấp về lợi ích được quan niệm là những tranh chấp nảy sinh từ những bất đồng, bế tắc trong thương lượng về ký kết thỏa ước lao động tập thể và cả những khiếu nại hàng ngày của NLĐ [6, tr. Còn luật lao động sửa đổi năm 2006 của nước Cộng hòa dân chủ nhân 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân Lào cũng không quy định về TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể, theo đó các loại TCLĐ được ghi nhận trong luật này là: Tranh chấp về thực hiện luật lao động, tranh chấp liên quan đến lợi ích… [6, tr.
Ở Việt Nam thời kì trước đây khái niệm “tranh chấp lao động” chính thức được sử dụng trong Thông tư liên ngành số 02/TT-LN ngày 02/10/1985 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động và Tổng cục dạy nghề về việc hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân về một số TCLĐ. Tuy nhiên, tại Thông tư này, khái niệm “tranh chấp lao động” không được xác định về nội hàm mà chỉ là cụm từ có tính thông báo. Không ai có thể định hình TCLĐ là gì hoặc đó là tranh chấp giữa ai với ai, tranh chấp về cái gì [13, tr 6]. Thời kỳ đổi mới, TCLĐ mới được sử dụng trong các văn bản pháp luật.
Điều 27 Pháp lệnh hợp đồng lao động năm 1990 quy định: “Bất đồng nảy sinh giữa hai bên về việc thực hiện hợp đồng lao động được coi là tranh chấp lao động và được giải quyết theo trình tự giải quyết tranh chấp lao động. Đây là quy định đầu tiên giải thích khái niệm TCLĐ. Tuy nhiên, quy định tại Điều 27 Pháp lệnh hợp đồng lao động năm 1990 vẫn chưa phải là một định nghĩa về TCLĐ [13, tr 6]. Đến năm 1994, khái niệm TCLĐ được ghi nhận tại khoản 1 Điều 157 BLLĐ: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề”.
BLLĐ sửa đổi bổ sung năm 2006 đã đưa ra khái niệm TCLĐ như sau: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa NLĐ, tập thể lao động với NSDLĐ”. Định nghĩa trên đã đưa ra giới hạn về chủ thể TCLĐ phải là NLĐ và NSDLĐ nhưng vẫn chưa bao quát được hết các loại TCLĐ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BLLĐ năm 2012 quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động”. Phạm vi chủ thể của TCLĐ đã có sự thay đổi, rộng hơn.
Để đảm bảo các quyền lợi, nghĩa vụ hợp tác của các chủ thể này khi tham gia vào quan hệ lao động, nên khi định nghĩa về TCLĐ cụm từ “giữa các bên trong quan hệ lao động” đã được thay thế cho cụm từ “giữa người sử dụng lao động và người lao động” trong BLLĐ sửa đổi, bổ sung năm 2006. Ngoài ra, khoản 7 Điều 3 cũng quy định: “Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động”. Quy định pháp luật của các nước trên thế giới thì mỗi nước có sự khác nhau riêng. Tuy nhiên có điểm chung là xuất phát từ sự tranh chấp giữa NSDLĐ và NLĐ về quyền và lợi ích của các bên.
Trong quá trình xây dựng pháp luật lao động ở Việt Nam các quy định đã được các nhà làm luật quy định một cách chi tiết trong BLLĐ hiện hành làm cơ sở cho việc giải quyết các TCLĐ một cách triệt để, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, giúp ổn định quan hệ lao động. Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm TCLĐ cá nhân như sau: “TCLĐ cá nhân là tranh chấp lao động xảy ra giữa NLĐ và NSDLĐ về các quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh trong các quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động‟‟. Đặc điểm của tranh chấp lao động cá nhân TCLĐ cá nhân là một loại của TCLĐ, đặc điểm của TCLĐ cá nhân vừa mang đặc điểm của TCLĐ nói chung, vừa có những điểm riêng. Cụ thể TCLĐ cá nhân có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, về chủ thể của TCLĐ cá nhân: TCLĐ cá nhân là tranh chấp xảy ra giữa NLĐ với bên SDLĐ trong quan hệ lao động.
Như vậy trong quan 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hệ của tranh chấp này vẫn bắt buộc phải có sự tham gia của hai phía là NLĐ và bên NSDLĐ. Đây là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt sự khác nhau giữa TCLĐ cá nhân với TCLĐ tập thể. Nhưng trong một số trường hợp cũng cần phân biệt được những TCLĐ mặc dù phía NLĐ chỉ có một người, nhưng đứng ra đại diện cho quyền lợi của một nhóm người hoặc một tập thể NLĐ thì tranh chấp đó vẫn được xem là TCLĐ tập thể chứ không phải là TCLĐ cá nhân [5, tr. Thứ hai, về phạm vi của TCLĐ cá nhân: TCLĐ cá nhân là tranh chấp xuất hiện và tồn tại trong phạm vi quan hệ lao động và các quan hệ khác.Trên thực tiễn có rất nhiều trường hợp đã chứng minh rằng, chỉ có tồn tại trong quan hệ lao động thì mới xác định là TCLĐ.
Trong mọi trường hợp để xác định là TCLĐ nói chung cũng như TCLĐ cá nhân nói riêng thì nhất thiết phải xác định được quan hệ lao động hiện đang tồn tại giữa NLĐ và bên NSDLĐ [5, tr. 10] Thứ ba, về nội dung của TCLĐ cá nhân: TCLĐ cá nhân phát sinh khi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của một cá nhân NLĐ hay một nhóm NLĐ và thường nảy sinh trên cơ sở hợp đồng lao động bị xâm hại. Khi các bên tham gia quan hệ lao động thì họ đã xác lập quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ đó.