Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng thuộc pháp luật dân sự, điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác (theo Điều 274, 275 và Chương XX Bộ luật Dân sự năm 2015). Khi hành vi gây thiệt hại có dấu hiệu cấu thành tội phạm, quan hệ bồi thường thiệt hại dân sự được đặt trong khuôn khổ giải quyết vụ án hình sự. Việc giải quyết đồng thời hoặc tách bạch phần dân sự trong tố tụng hình sự vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và nâng cao hiệu quả cải cách tư pháp.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế tại Tòa án nhân dân.

Để thực hiện mục đích nêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự;
  2. Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Tòa án; chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý trong các quy định pháp luật hình sự và dân sự liên quan;
  3. Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật và thực tiễn giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào các dạng tranh chấp điển hình: bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, do sức khỏe bị xâm phạm, do tính mạng bị xâm phạm, do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (theo Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015). Về không gian và thời gian, đề tài nghiên cứu thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cùng số liệu thống kê thụ lý chung của ngành Tòa án nhân dân tính đến thời điểm năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về chiến lược cải cách tư pháp và bảo vệ quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Khung cơ sở pháp lý và văn bản áp dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 20, 21, 46, 47, 53, 274, 275, 584, 585, 586, 589, 590, 591, 592, 599, 601, 603);
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 30, 62, 63, 64, 291);
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (Khoản 1 Điều 48);
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 74);
  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
  • Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
  • Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt trong các chương để làm rõ các khái niệm, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phân tích nội dung các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn xét xử;
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng để tập hợp, tổng hợp số liệu về tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự có yếu tố dân sự của hệ thống Tòa án nhân dân;
  • Phương pháp tổng hợp và so sánh: Sử dụng để liên kết các vấn đề lý luận với thực tiễn xét xử, so sánh các quy định giữa pháp luật dân sự, hình sự và tố tụng hình sự nhằm rút ra các kết luận khoa học và xây dựng kiến nghị hoàn thiện.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, cùng các vụ việc, tình huống xét xử thực tế trong ngành Tòa án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự

Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý, điều kiện phát sinh, các nguyên tắc cơ bản và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định là một dạng trách nhiệm dân sự mang tính tài sản, phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp được luật bảo vệ. Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, trách nhiệm bồi thường phát sinh khi hội đủ 4 điều kiện:

  1. Có thiệt hại thực tế xảy ra: Bao gồm thiệt hại vật chất (tài sản bị mất, bị hủy hoại, hư hỏng; sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm; chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại) và tổn thất về tinh thần (đau thương, buồn phiền, giảm sút uy tín cá nhân hoặc tổ chức);
  2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Thể hiện qua hành động hoặc không hành động trái với quy định pháp luật;
  3. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại phải là kết quả tất yếu, trực tiếp từ hành vi trái pháp luật;
  4. Yếu tố lỗi của người gây thiệt hại: Lỗi cố ý hoặc vô ý. Tuy nhiên, lỗi không phải là điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp (ví dụ: bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo Khoản 3 Điều 601 hoặc bồi thường do súc vật gây ra theo Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại (Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP), thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có quyền thỏa thuận về mức, hình thức và phương thức bồi thường. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài.

Về cá thể hóa và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 586, Điều 599 Bộ luật Dân sự năm 2015), tác giả tổng hợp và phân loại các quy tắc xác định chủ thể bồi thường:

Nhóm chủ thể gây thiệt hại Quy tắc xác định trách nhiệm bồi thường Căn cứ pháp lý
Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Phải tự bồi thường bằng toàn bộ tài sản của mình. Khoản 1 Điều 586 BLDS 2015
Người chưa đủ 15 tuổi Cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con để bồi thường phần còn thiếu. Khoản 2 Điều 586 BLDS 2015, Điều 74 Luật Hôn nhân & Gia đình 2014
Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Tự bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của cha, mẹ. Khoản 2 Điều 586 BLDS 2015
Người được giám hộ (người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự) Người giám hộ dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu không đủ thì người giám hộ bồi thường phần thiếu bằng tài sản của mình (trừ khi chứng minh không có lỗi trong giám hộ). Khoản 3 Điều 586, Điều 46, 47, 53 BLDS 2015
Người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự trong thời gian trường học, bệnh viện quản lý Trường học, bệnh viện, pháp nhân quản lý trực tiếp phải bồi thường nếu có lỗi trong việc quản lý; nếu chứng minh không có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường. Điều 599 BLDS 2015
Tài sản của vợ chồng gây thiệt hại Tài sản chung thì cả hai vợ chồng cùng chịu trách nhiệm; tài sản riêng thì bên sở hữu chịu trách nhiệm (trừ trường hợp sử dụng tài sản phục vụ nhu cầu chung hoặc có thỏa thuận khác). Điều 601 BLDS 2015 và các quy định liên quan

Chương 1 cũng làm rõ các căn cứ xác định mức bồi thường trong 5 loại tranh chấp: xâm phạm tài sản (Điều 589), xâm phạm sức khỏe (Điều 590), xâm phạm tính mạng (Điều 591), xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 592) và thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601).

Chương 2: Nguyên tắc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự

Chương 2 phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ bồi thường trong vụ án hình sự và quy trình tố tụng tương ứng.

Căn cứ pháp lý áp dụng chủ yếu gồm Điều 30, Điều 62, Điều 63, Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Chương XX Bộ luật Dân sự năm 2015. Về nguyên tắc, việc giải quyết vấn đề dân sự được tiến hành đồng thời với việc giải quyết vụ án hình sự nhằm giải quyết triệt để vụ án, tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người bị hại sử dụng các chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập. Trong quá trình đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định đúng các quan hệ dân sự cần giải quyết và xác định chính xác tư cách pháp lý của các đương sự (bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan).

Về nguyên tắc tách vấn đề bồi thường thiệt hại: Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án chỉ được tách phần dân sự để giải quyết bằng một vụ án dân sự độc lập theo thủ tục tố tụng dân sự khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện:

  • Chưa có điều kiện chứng minh về phần bồi thường thiệt hại, bồi hoàn (chưa xác định được bị hại/nguyên đơn dân sự; đương sự chưa có yêu cầu hoặc không cung cấp đủ chứng cứ; đương sự vắng mặt gây trở ngại cho việc giải quyết bồi thường theo Điều 291 BLTTHS);
  • Việc tách phần dân sự không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự (không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm hay xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo).

Thẩm quyền tách phần dân sự thuộc về Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm/tái thẩm.

Về thủ tục giải quyết qua 4 giai đoạn tố tụng hình sự:

  1. Giai đoạn khởi tố: Tiếp nhận tin báo, xác minh sơ bộ mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; quyết định khởi tố vụ án đồng thời làm phát sinh việc giải quyết phần dân sự liên quan;
  2. Giai đoạn điều tra và truy tố: Điều tra viên hỏi cung bị can, thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại; lập bản kết luận điều tra kèm bản kê về vật chứng, biện pháp bảo đảm phạt tiền, bồi thường, tịch thu tài sản; Viện kiểm sát ban hành cáo trạng thể hiện rõ yêu cầu bồi thường dân sự;
  3. Giai đoạn xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm): Tiến hành thủ tục xét hỏi công khai bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; tổ chức tranh luận về tính chất, mức độ thiệt hại và trách nhiệm bồi thường; tuyên bản án giải quyết đồng thời trách nhiệm hình sự và dân sự;
  4. Giai đoạn thi hành án: Phần quyết định dân sự trong bản án hình sự được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.

Chương 3: Thực tiễn thi hành và kiến nghị để hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự

Chương 3 chỉ ra các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân:

  • Số lượng và tính chất: Các vụ việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp;
  • Bất cập về văn bản quy phạm: Quy định giải quyết phần dân sự trong án hình sự nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau (Điều 30 BLTTHS 2015, BLDS 2015, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ). Bộ luật Tố tụng hình sự chưa có chương hoặc điều khoản quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, gây lúng túng trong áp dụng;
  • Xác định tư cách đương sự: Pháp luật tố tụng hình sự thiếu định nghĩa rõ ràng về "người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan", dẫn đến việc cơ quan điều tra và Tòa án xác định nhầm lẫn tư cách tố tụng (chẳng hạn xác định người làm chứng thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, làm phát sinh quyền kháng cáo không cần thiết);
  • Tâm lý thực thi công vụ: Cơ quan và người tiến hành tố tụng thường tập trung vào trách nhiệm hình sự, coi nhẹ trách nhiệm dân sự; chưa nghiên cứu kỹ quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, dẫn đến định giá sai thiệt hại, quyết định mức bồi thường không chính xác hoặc lạm dụng việc tách phần dân sự trái quy định.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật:

  • Về lập pháp: Cần bổ sung quy định cụ thể về thủ tục, trình tự giải quyết phần dân sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự; hoàn thiện các quy định về trách nhiệm liên đới của cha mẹ và nhà trường đối với người dưới 15 tuổi gây thiệt hại; quy định rõ ràng về tiêu chí xác định tư cách đương sự trong vụ án;
  • Về áp dụng pháp luật: Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ tư pháp (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) trong việc nắm vững và vận dụng các quy phạm pháp luật dân sự khi giải quyết vụ án hình sự; hạn chế việc tùy tiện tách vụ án dân sự khi chưa đáp ứng đủ điều kiện luật định.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và mối quan hệ tương hỗ giữa pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Nam;
  • Hệ thống hóa toàn diện các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường và các căn cứ xác định thiệt hại đối với tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và nguồn nguy hiểm cao độ;
  • Phân tích chi tiết quy tắc cá thể hóa trách nhiệm bồi thường theo từng nhóm đối tượng (người thành niên, người chưa thành niên theo các độ tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người được giám hộ, vợ chồng và các tổ chức quản lý);
  • Làm rõ căn cứ và thẩm quyền tách phần dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Công văn số 121/2003/KHXX qua các cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm;
  • Chỉ ra những vướng mắc thực tế trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tại Tòa án nhân dân cấp huyện (điển hình tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh) và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện về lập pháp lẫn nghiệp vụ áp dụng pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có phạm vi tập trung chủ yếu vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Các dạng tranh chấp được khảo sát chủ yếu xoay quanh 5 nhóm hành vi gây thiệt hại điển hình (tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và nguồn nguy hiểm cao độ).

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực tiễn tại nhiều Tòa án nhân dân các cấp trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế định giá và bồi thường thiệt hại phi vật chất, bồi thường thiệt hại do pháp nhân thương mại phạm tội gây ra, cũng như các giải pháp tăng cường hiệu quả thi hành án dân sự đối với phần bồi thường trong các bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Luật Tư pháp hình sự, Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật và học viện thuộc khối công an, kiểm sát, tòa án;
  • Cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Chấp hành viên) trong việc tra cứu căn cứ pháp lý và trình tự giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự;
  • Người thực hiện đề tài nghiên cứu liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cá thể hóa trách nhiệm dân sự của người chưa thành niên, và thủ tục tách phần dân sự trong tố tụng hình sự.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 1 (phân tích chi tiết năng lực bồi thường của từng nhóm chủ thể theo Bộ luật Dân sự năm 2015) và Chương 2 (hệ thống hóa quy trình tố tụng 4 giai đoạn và điều kiện tách giải quyết phần dân sự theo Công văn 121/2003/KHXX).

Câu hỏi thường gặp

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên dưới 15 tuổi khác với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi như thế nào? Theo Khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015:

  • Đối với người chưa đủ 15 tuổi: Cha, mẹ là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại đầu tiên; chỉ khi tài sản của cha, mẹ không đủ mà con có tài sản riêng thì mới lấy tài sản của con để bù vào phần còn thiếu.
  • Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi: Bản thân người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm trực tiếp và bồi thường bằng tài sản riêng của mình trước; cha, mẹ chỉ phải bồi thường phần còn thiếu nếu con không đủ tài sản.

2. Điều kiện bắt buộc để Tòa án tách phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự ra giải quyết riêng theo thủ tục tố tụng dân sự là gì? Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Công văn số 121/2003/KHXX, việc tách phần dân sự phải thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện:

  • Phần bồi thường thiệt hại, bồi hoàn chưa có điều kiện chứng minh (chưa tìm được bị hại/nguyên đơn dân sự, đương sự chưa có yêu cầu hoặc không cung cấp đủ chứng cứ chứng minh, hoặc vắng mặt gây trở ngại cho việc giải quyết);
  • Việc tách phần dân sự không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự (không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo).

3. Khi học sinh dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện quản lý thì chủ thể nào chịu trách nhiệm bồi thường? Theo Điều 599 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường học hoặc bệnh viện phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có lỗi trong việc quản lý, chăm sóc, giáo dục. Nếu trường học hoặc bệnh viện chứng minh được mình không có lỗi trong việc quản lý thì trách nhiệm bồi thường sẽ chuyển về cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của người gây thiệt hại.

4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có bắt buộc phải có yếu tố lỗi của chủ sở hữu hay người chiếm hữu, sử dụng không? Theo Khoản 3 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi, trừ hai trường hợp luật định: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, hoặc thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết (trừ khi pháp luật có quy định khác).

5. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trình tự xét hỏi đối với phần dân sự được tiến hành như thế nào? Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và người bào chữa tiến hành xét hỏi phần hình sự, các đương sự liên quan đến phần dân sự (bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) sẽ trình bày các tình tiết liên quan đến yêu cầu bồi thường của mình. Hội đồng xét xử sẽ hỏi thêm các nội dung chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Trường hợp bị cáo đồng thời là bị đơn dân sự thì tiếp tục bị xét hỏi với tư cách bị đơn dân sự.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Hoàng đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng áp dụng chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Công trình đã làm rõ các nguyên tắc, căn cứ phân định thiệt hại, năng lực bồi thường theo từng nhóm đối tượng cũng như các điều kiện pháp lý để giải quyết đồng thời hoặc tách phần dân sự trong tố tụng hình sự. Những tồn tại thực tiễn và các đề xuất hoàn thiện lập pháp, nghiệp vụ được nêu trong khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân.